PHÁP LUẬT
Cập nhật 19:55 | 10/12/2019 (GMT+7)
.
Sổ tay

Khó thực hiện nếu thiếu giải pháp tổng thể

07:33 | 16/08/2019
Sau 4 năm thực hiện Nghị quyết số 19/NQ-CP của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, đến năm 2018 môi trường kinh doanh của Việt Nam đã được cải thiện cả về điểm số và thứ hạng. Tuy nhiên, có 4 chỉ tiêu giảm bậc, trong đó có 2 chỉ tiêu quan trọng, bao gồm: giải quyết tranh chấp Hợp đồng (A9) giảm 15 bậc; phá sản doanh nghiệp (A10) giảm 29 bậc.

Theo các Báo cáo về môi trường kinh doanh của Ngân hàng Thế giới trong vài năm gần đây, chỉ số A9 của Việt Nam thường ở mức trung bình thấp so với một số nước ở khu vực Đông Á và Thái Bình Dương và thấp hơn 3 quốc gia ở khu vực ASEAN được đánh giá có môi trường kinh doanh tốt nhất (Singapore, Malaysia, Thái Lan). Năm 2018, Báo cáo này cho thấy, chỉ số A9 của Việt Nam xếp thứ 66/190 quốc gia xếp hạng; chỉ số A10 đứng thứ 133/190 nền kinh tế, với thời gian 5 năm để giải quyết một vụ việc phá sản giá trị nhỏ (tương đương 5.000 USD), chất lượng của khuôn khổ pháp lý về phá sản doanh nghiệp chỉ đạt 7,5/16 điểm. Chính vì thế, Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 1.1.2019 về việc tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2019 và định hướng đến năm 2021 đã xác định, cải thiện chỉ số A9 lên 8 - 12 bậc, năm 2019 ít nhất 3 bậc; A10 lên 10 -1 5 bậc, năm 2019 tăng ít nhất 3 bậc. 

Để cải thiện 2 chỉ số trên, việc hoàn thiện thể chế; triển khai các hoạt động cải cách thủ tục hành chính, công khai hoạt động tòa án; triển khai các hoạt động hỗ trợ công tác thi hành án dân sự, bổ trợ tư pháp; thực hiện các giải pháp tăng cường hiệu quả phương thức giải quyết tranh chấp ngoài tòa án; rút ngắn thời gian và nâng cao hiệu quả thi hành án, nhất là đối với các vụ án tranh chấp hợp đồng; nâng cao vai trò của đội ngũ trọng tài thương mại, luật sư… là những đề xuất được Bộ Tư pháp đưa ra với tư cách là cơ quan tham mưu cho Chính phủ.

Có thể thấy sự tích cực của các bộ, ngành liên quan trong việc đưa ra các đề xuất nhằm cải thiện các chỉ số A9, A10. Tuy nhiên, các đề xuất nêu trên sẽ không thể trở thành hiện thực nếu thiếu các giải pháp tổng thể khác liên quan đến điều kiện cơ sở, nhân lực hiện có của ngành tòa án, viện kiểm sát cũng như việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động của hai ngành này. Đây là những điều kiện cơ bản, có tính quyết định để các giải pháp nêu trên được hiện thực hóa. Tuy nhiên, hiện các vấn đề cơ sở hạ tầng, con người, ứng dụng công nghệ thông tin... đều là điểm nghẽn lớn của ngành tòa án, viện kiểm sát. Đơn cử, số lượng các loại vụ, việc thuộc thẩm quyền của tòa án năm sau luôn cao hơn năm trước, trong khi số lượng biên chế 15.237 người được UBTVQH phân bổ từ năm 2012, tại thời điểm đó số lượng các loại vụ việc thuộc thẩm quyền của tòa án các cấp phải giải quyết hơn 303.848 vụ việc/năm. Đến nay, số lượng vụ việc phải giải quyết tăng hơn 40% so với số lượng vụ việc tại thời điểm ban hành Nghị quyết số 473a/2012/NQ-UBTVQH13. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nên toàn bộ các cơ quan trong hệ thống chính trị từ nay đến năm 2021 phải thực hiện tinh giản tối thiểu 10% đội ngũ cán bộ hiện có.

Đình Khoa
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang