PHÁP LUẬT
Cập nhật 12:02 | 07/12/2019 (GMT+7)
.
Sổ tay

Bị động, thiếu thông tin

07:58 | 14/08/2019
Phòng vệ thương mại ngày càng được sử dụng nhiều như một công cụ hợp pháp để tăng bảo hộ sản xuất. Tuy nhiên, việc thiếu thông tin về cơ chế, cũng như những thay đổi pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật của các thị trường xuất khẩu đang là một trong những rào cản lớn đối với các doanh nghiệp trong nước.

Tính đến hết tháng 7, trung bình cứ mỗi tháng lại có 1 vụ kiện phòng vệ thương mại với hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam. Nhiều nước trong khu vực như Indonesia, Thái Lan cũng đã đẩy mạnh các vụ kiện phòng vệ thương mại với Việt Nam, nhiều dòng sản phẩm bị áp thuế bổ sung ở mức 25%, 35%, thậm chí lên tới từ 200 - 250%.  Đồng thời, các cơ quan chức năng trong nước cũng đã tiến hành 10 vụ việc điều tra mới, thẩm định hồ sơ và theo dõi áp dụng biện pháp chống bán phá giá với hàng loạt mặt hàng thuộc nhóm nhôm thép, ván gỗ MDF và nhựa nhập khẩu. Gần đây nhất là sự việc màng nhựa BOPP của 3 nước Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia nhập khẩu vào Việt Nam đã được Bộ Công thương chính thức đưa vào diện điều tra áp dụng biện pháp chống bán phá giá. Vụ việc xuất phát từ hồ sơ yêu cầu của hai doanh nghiệp sản xuất trong nước.

Những động thái tích cực này cho thấy các cơ quan chức năng, hiệp hội ngành hàng và doanh nghiệp Việt Nam đang dần chú ý hơn đến vấn đề này. Thực tế cũng cho thấy, sau nhiều năm tìm đường vào các thị trường trên thế giới, doanh nghiệp Việt Nam đã tương đối quen thuộc với các biện pháp phòng vệ thương mại và đã có sự chủ động để điều tra các vụ việc tương tự. Tuy nhiên, để đối phó thì vẫn còn khá nhiều lúng túng, chưa kể đây mới chỉ là động thái của các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, còn doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam với số lượng chiếm tới gần 97% lại hầu như chưa nắm bắt được thông tin về phòng vệ thương mại, hay nói cách khác là chưa chú ý đúng mức tới công cụ được coi là “van an toàn” của dòng chảy hội nhập.

Theo Phó Cục trưởng Cục Phòng vệ thương mại, Bộ Công thương Chu Thắng Trung, nguyên nhân là do còn có sự hạn chế nhất định về nguồn lực, quy mô của doanh nghiệp và các điều kiện để tiếp cận trong hoạt động thương mại quốc tế. Đồng thời, các doanh nghiệp cũng chưa thật sự chủ động trong việc tìm hiểu pháp luật, cơ chế, thông tin và những vấn đề liên quan trong việc tranh chấp thương mại quốc tế.

Tổng giám đốc Công ty TNHH WTL Nguyễn Tuấn Vũ cũng cho rằng, khó khăn trong các vụ kiện phòng vệ thương mại được phía Việt Nam khởi xướng đều đến từ việc thu thập thông tin về giá bán tại các nước xuất khẩu để so sánh với mức giá trong nước. Bên cạnh đó, hệ thống quản lý và truy xuất thông tin nội bộ doanh nghiệp cũng đang là rào cản lớn. Lý do là ngoài những doanh nghiệp đã niêm yết, hoặc các doanh nghiệp lớn có vốn nước ngoài thì những doanh nghiệp còn lại của Việt Nam thường có hệ thống chưa được hoàn chỉnh, nên việc bảo đảm số liệu chính xác khi tham gia vào một vụ kiện phòng vệ thương mại rất mất thời gian và công sức.

Qua các vụ việc cụ thể cho thấy, chính việc bị động, thiếu thông tin, thậm chí thiếu nguồn nhân lực có kinh nghiệm về phòng vệ thương mại đã dẫn đến nhiều sự thua thiệt của các doanh nghiệp Việt Nam. Biện pháp phòng vệ thương mại là để bảo vệ cho một ngành sản xuất chứ không phải một doanh nghiệp hay nhóm doanh nghiệp cụ thể. Do vậy, bên cạnh việc cơ quan điều tra cần có đầy đủ thông tin từ tất cả các thành phần liên quan trong ngành sản xuất đó để có thể đưa ra quyết định khách quan và chính xác về vụ việc. Bởi vậy, các doanh nghiệp cần thường xuyên liên lạc với cơ quan chức năng để được tư vấn kịp thời về những thay đổi pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật của các thị trường xuất khẩu.

Vân Phi
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang