PHÁP LUẬT
Cập nhật 21:49 | 13/12/2019 (GMT+7)
.
Bảo vệ các loài thú lớn trước nguy cơ tuyệt chủng

Chính sách chồng chéo, thực thi chưa nghiêm

08:11 | 03/08/2019
Mặc dù Việt Nam đã xây dựng được chính sách tương đối đầy đủ về bảo tồn động vật hoang dã, trong đó có hổ - một trong những loài thú lớn quý hiếm, song do chính sách chưa đồng bộ, vẫn còn chồng chéo trong danh mục loài, chế độ quản lý khác nhau cũng như thiếu quy định về xử lý tang vật... Bên cạnh đó, việc thực thi pháp luật trong bảo tồn động vật hoang dã chưa nghiêm, còn tình trạng mua bán, tiêu thụ sản phẩm từ hổ qua mạng…

Nguy cơ bị tuyệt chủng cao

Theo Báo cáo của Quỹ Quốc tế bảo vệ Thiên nhiên, tác động của con người đã đẩy tốc độ tuyệt chủng của các loài hoang dã trên thế giới hiện nay nhanh gấp khoảng 4.000 lần so với thời kỳ Đại tuyệt chủng của các loài khủng long. Báo cáo cũng cảnh báo rằng, nếu không có hành động khẩn cấp thì trong vòng khoảng ba thập kỷ tới thế giới sẽ phải chứng kiến cuộc đại tuyệt chủng của các loài hoang dã lần thứ 6. Hổ - một trong những loài thú lớn cũng đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng cao.

Giám đốc Trung tâm Con người và Thiên nhiên PanNature Trịnh Lê Nguyên cho biết, Việt Nam là một trong số 13 quốc gia còn hổ sinh sống ngoài tự nhiên, song số lượng hổ Việt Nam đang ngày càng suy giảm. Cụ thể, theo thống kê từ các Chi cục Kiểm lâm năm 2001, quần thể hổ trong toàn quốc ước tính có thể còn trên 100 con. Tuy nhiên, chỉ sau 10 năm, điều tra của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (Viện hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) năm 2011 cảnh báo số lượng hổ hoang dã của Việt Nam đã suy giảm nghiêm trọng, chỉ còn khoảng từ 27 - 47 con.

Nghiêm trọng hơn, số liệu cập nhật năm 2016 của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (WWF) cho thấy, số lượng hổ ngoài tự nhiên của Việt Nam có thể chỉ còn dưới 5 con và được đánh giá là loài đang có nguy cơ tuyệt chủng cao. Nhiều dự báo cho rằng, sau sự biến mất của con tê giác cuối cùng năm 2010, hổ sẽ là loài thú lớn tiếp theo của Việt Nam được đưa vào danh sách tuyệt chủng trong tự nhiên.

Thực thi pháp luật chưa nghiêm

 Ông Trần Lê Trà, Tổ chức Hợp tác Quốc tế Đức (GIZ) cho biết, công tác bảo tồn hổ đang gặp những khó khăn nhất định. Bởi, mỗi con hổ cần thức ăn là vài chục kg thịt mỗi ngày, trong khi đó các loài làm thức ăn cho hổ ngày càng suy giảm vì hàng trăm, hàng nghìn chiếc bẫy được tìm thấy trong các khu rừng của Việt Nam. Đó là chưa kể, vùng sống của một con hổ cái cần 40km2, hổ đực cần 100km2, để tìm được nơi có diện tích lớn như vậy tại nước ta thì thật sự rất khó.

Bà Nguyễn Thị Vân Anh (Cục Bảo tồn thiên nhiên và Đa dạng Sinh học, Tổng cục Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường) cho biết: Hiện nay, Việt Nam đã xây dựng chính sách tương đối đầy đủ về động vật hoang dã. Mới đây nhất, tại Hội nghị Bảo tồn Hổ Quốc tế St. Petersburg năm 2010, Việt Nam cam kết sẽ tăng gấp đôi số lượng hổ ngoài tự nhiên vào năm 2022. Để thực hiện cam kết này, năm 2014, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 539 phê duyệt Chương trình quốc gia về bảo tồn hổ giai đoạn 2014 - 2022 nhằm “bảo vệ, bảo tồn hổ, sinh cảnh và con mồi của hổ, góp phần ngăn chặn sự suy giảm, tùng bước phục hồi, cải thiện và tăng số lượng hổ tự nhiên đến năm 2022”… Tuy nhiên, do chính sách chưa đồng bộ, còn chồng chéo trong danh mục loài, chế độ quản lý khác nhau cũng như thiếu những quy định về xử lý tang vật... gây khó khăn cho quá trình thực thi.

Bên cạnh đó, do việc thực thi pháp luật về bảo tồn động vật hoang dã quý hiếm chưa nghiêm của đại bộ phận người dân cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng suy giảm nhanh các loài động vật hoang dã, trong đó có loài hổ là nhu cầu tiêu thụ của người dân. Nhiều người vẫn có niềm tin rằng các sản phẩm từ hổ có thể chữa bệnh và trừ tà. Số liệu khảo sát của Mạng lưới theo dõi, giám sát buôn bán động, thực vật hoang dã toàn cầu tại Việt Nam (Traffic) chỉ rõ: Từ tháng 1- 4.2017 qua khảo sát đối với 1.120 người tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh cho thấy, 83% người được khảo sát đã mua sản phẩm từ hổ là cao hổ cốt, 28% đã mua sản phẩm từ hổ trong 12 tháng qua, 38% đã mua sản phẩm từ hổ trong 1 - 5 năm qua. Đáng chú ý, trong số những người mua sản phẩm từ hổ có tới 71% người mua vì mục đích chữa bệnh, dù không biết có hiệu quả thật hay không.

Đồng quan điểm, bà Trần Thanh Hương (Quản lý các dự án WCS tại Việt Nam) nhận định: Ở Việt Nam, sự quan tâm, ưu tiên việc này còn hạn chế, nguồn lực đầu tư chưa đủ so với mong đợi của cơ quan chức năng. Luật đã nghiêm nhưng xử lý đúng người đúng tội rất khó. Hiện tại săn bắt, buôn bán động vật hoang dã vì mục đích thương mại là chủ yếu, có tổ chức hoạt động xuyên quốc gia chính. Vì vậy, để bảo tồn được loài hổ, cần tuyên truyền nâng cao ý thức người dân không săn bắt, đặt bẫy các loài động vật hoang dã. Nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật, xử lý nghiêm đối tượng săn bắt và buôn bán hổ nói riêng và động vật hoang dã nói chung. Cuối cùng là cần sự “chung tay” của cơ quan chức năng, tổ chức và người dân để bảo tồn loài hổ.

Phó Cục trưởng Cục Cảnh sát Môi trường (Bộ Công an), Đại tá Nguyễn Văn Sáu cũng cho biết, Chính phủ rất nỗ lực trong vấn đề này và thay đổi một số luật liên quan đến bảo vệ rừng, như phạt lên đến 15 năm tù đối với một số tội buôn bán, sử dụng sản phẩm từ động vật hoang dã. Thời gian qua, lực lượng Cảnh sát Môi trường đã triệt phá nhiều vụ án buôn bán động vật hoang dã và chế biến, sử dụng các sản phẩm từ động vật hoang dã, trong đó có hổ. Tuy nhiên, qua thực tiễn đấu tranh các loại tội phạm này cho thấy, để bảo vệ các loài thú lớn, trong đó có hổ khỏi họa tuyệt chủng, cần thực hiện chiến dịch truyền thông nhằm thay đổi thói quen của người dân và toàn xã hội trong việc mua bán, tiêu thụ sản phẩm từ động vật hoang dã nói chung, sản phẩm từ hổ nói riêng; đồng thời tăng cường công tác thực thi pháp luật và hợp tác với các nước có chung đường biên giới để phục hồi, đẩy mạnh bảo tồn như di chuyển, tái tạo hổ.

Bài và ảnh: Bảo Hân
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang