PHÁP LUẬT
Cập nhật 21:49 | 13/12/2019 (GMT+7)
.
Sổ tay

“Cởi trói” cho doanh nghiệp

08:09 | 01/08/2019
Khoản 3, Điều 8, Nghị định số 20/2017/NĐ-CP của Chính phủ quy định về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết quy định: “Tổng chi phí lãi vay phát sinh trong kỳ của người nộp thuế được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp không vượt quá 20% của tổng lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh cộng với chi phí lãi vay, chi phí khấu hao trong kỳ của người nộp thuế”. Việc Nghị định 20 đưa thêm quy định về việc áp dụng tỷ lệ khống chế chi phí lãi vay cố định, trong khi Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp chưa quy định đã và đang gây khó cho các doanh nghiệp.

Theo kết quả điều tra của Tổng cục Thống kê, đối với doanh nghiệp tư nhân trong nước, bình quân tỷ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu là khoảng 3/1, tức là cứ có 4 đồng vốn thì chỉ có 1 đồng vốn chủ sở hữu, 3 đồng phải đi vay. Tính toán dựa trên số liệu này cũng cho thấy, tỷ suất lợi nhuận trên vốn của khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước chỉ khoảng 1,12%. Như vậy, với quy định trên, Nghị định số 20/2017/NĐ-CP đang khiến khối doanh nghiệp tư nhân trong nước bị tăng lợi nhuận “ảo”, dẫn đến phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp cao hơn và lợi nhuận thật của doanh nghiệp bị giảm đáng kể, thậm chí có thể bị lỗ.

Với mục tiêu nhằm hạn chế việc chuyển giá của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam để tối đa hóa lợi nhuận và tối thiểu hóa nghĩa vụ thuế phải nộp, song với những quy định của Nghị định số 20/2017/NĐ-CP lại đang trái ngược hoàn toàn. Nghị định như “sợi dây trói chặt” các doanh nghiệp tư nhân trong nước, đặc biệt là những doanh nghiệp đang đầu tư vào những ngành trọng điểm cần số vốn rất lớn như nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, dệt may, da giày, chế biến thủy hải sản, kinh doanh bất động sản. Trong khi những quy định này lại hầu như không ảnh hưởng nhiều đến doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Nguyên nhân là do họ ít phải vay, tỷ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu của loại hình doanh nghiệp này chỉ là 1,8/1, thấp hơn khu vực trong nước rất nhiều, trong khi đó tỷ suất lợi nhuận trên vốn của khu vực FDI lại rất cao, gấp 5,4 lần khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước.

Ngoài ra, Luật Quản lý thuế quy định, thời gian tối đa cơ quan thuế xuống doanh nghiệp quyết toán thuế là 5 năm và theo Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp thì khoản lãi vay không bị trừ ra khỏi chi phí hợp lý, do vậy trước khi Nghị định 20 ra đời, kế toán của doanh nghiệp mặc nhiên hạch toán khoản lãi vay này vào chi phí hợp lý. Còn hiện nay, nhiều khả năng các khoản lãi được hạch toán vào chi phí trước khi có Nghị định số 20/2017/NĐ-CP sẽ bị cơ quan thuế xuất toán, khi đó chủ doanh nghiệp mới biết lãi thật của mình không còn do bị truy thu thuế theo Nghị định này. Chưa kể, Nghị định này cũng có thể cản trở việc các hộ kinh doanh cá thể phát triển thành doanh nghiệp, vì họ có khả năng chuyển từ trạng thái đang làm ăn có lãi thành thua lỗ do bị khống chế về chi phí lãi vay khi lên thành doanh nghiệp, nên sẽ không muốn chuyển đổi.

Như vậy, sau hơn 2 năm có hiệu lực, Nghị định số 20/2017/NĐ-CP đang trở thành rào cản và gây khó khăn cho khối doanh nghiệp tư nhân trong nước. Để có thể “cởi trói” cho doanh nghiệp, việc sửa đổi là cần thiết. Tuy nhiên, việc sửa đổi cần phải làm triệt để, sát với điều kiện thực tiễn của Việt Nam, cũng như có đánh giá toàn diện tác động của những quy định này đến môi trường đầu tư và tính thống nhất của hệ thống pháp luật.

Vân Phi
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang