PHÁP LUẬT
Cập nhật 09:31 | 16/12/2019 (GMT+7)
.
Nhiều bản án, quyết định hành chính chưa được thi hành

Trách nhiệm người đứng đầu cơ quan hành chính

08:25 | 17/07/2019
Tính đến ngày 31.3.2019, có 312/415 bản án, quyết định hành chính của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng chưa được thi hành, chiếm tỷ lệ 75%, trong đó có 298 bản án, quyết định mà người phải thi hành án là Chủ tịch UBND, UBND chưa thi hành án. Đó là kết quả sau 3 năm thực hiện Luật Tố tụng hành chính năm 2015.

Tỷ lệ không tham gia đối thoại tăng

Theo báo cáo của Bộ Tư pháp, sau 3 năm thi hành Luật Tố tụng hành chính năm 2015 và các văn bản hướng dẫn liên quan, việc chấp hành pháp luật tố tụng hành chính và thi hành án hành chính trong bộ máy hành chính nhà nước đã đạt được một số kết quả nhất định; công tác theo dõi thi hành án hành chính của Hệ thống Thi hành án dân sự bước đầu đã được triển khai. Tuy nhiên, tình hình chấp hành pháp luật tố tụng hành chính và thi hành án hành chính của Chủ tịch UBND, UBND các cấp vẫn còn nhiều tồn tại. Tính đến ngày 31.3.2019, có 312/415 bản án, quyết định hành chính của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng chưa được thi hành, chiếm tỷ lệ 75%, trong đó có 298 bản án, quyết định mà người phải thi hành án là Chủ tịch UBND, UBND chưa thi hành án.

Trong đó, ý thức chấp hành pháp luật tố tụng hành chính của đội ngũ cán bộ, công chức, nhất là người đứng đầu trong các cơ quan hành chính nhà nước vẫn còn nhiều hạn chế. Thống kê của Bộ Tư pháp cho thấy, tỷ lệ Chủ tịch UBND và người đại diện của UBND không tham gia đối thoại, không tham gia phiên tòa có xu hướng ngày càng tăng (năm 2015: 12%; năm 2016: 23,78%; năm 2017: 33,27%); một số vụ án, người bị khởi kiện là Chủ tịch UBND hoặc UBND không cung cấp hoặc cung cấp không đúng thời hạn, không đầy đủ tài liệu, hồ sơ có liên quan gây khó khăn cho công tác xét xử và ảnh hưởng đến chất lượng bản án, quyết định của tòa án… Đặc biệt, số bản án, quyết định hành chính của tòa án chưa được thi hành còn nhiều, cá biệt có những bản án, quyết định từ năm 2001 đến nay vẫn chưa được thi hành.

Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế nêu trên bao gồm cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan, trong đó nguyên nhân chủ quan lớn nhất là ý thức của người đứng đầu các cơ quan hành chính ở một số địa phương về trách nhiệm chấp hành pháp luật tố tụng hành chính và thi hành án hành chính chưa đầy đủ; chất lượng ban hành quyết định hành chính tại một số địa phương còn thấp nhưng khi phát sinh khiếu nại của người dân lại chưa thực sự cầu thị xem xét thấu đáo vụ việc để có biện pháp khắc phục kịp thời; khi người dân khởi kiện vụ án hành chính tại tòa án, phát sinh thủ tục tố tụng lại không không tham gia đối thoại, không tham gia phiên tòa theo quy định tại Điều 60 Luật Tố tụng hành chính năm 2015; khi bản án, quyết định của tòa án có hiệu lực lại không nghiêm túc thi hành.

Xử lý trách nhiệm chậm thi hành án

Tòa án Nhân dân Tối cao xem xét, giải quyết các kiến nghị của cơ quan hành chính về những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thi hành án, các kiến nghị xem xét bản án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm; hướng dẫn thống nhất trình tự, thủ tục thi hành án hành chính đối với các trường hợp bản án, quyết định của Tòa án tuyên bác đơn yêu cầu khởi kiện của tổ chức, cá nhân (Dự thảo).

Dự thảo Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường chấp hành pháp luật tố tụng hành chính và thi hành án hành chính đang được lấy ý kiến các đối tượng liên quan. Dự thảo đã đề xuất các nhiệm vụ cụ thể mà Thủ tướng giao cho các bộ, ngành, địa phương nhằm kịp thời chấn chỉnh, khắc phục những tồn tại, hạn chế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, thi hành pháp luật tố tụng hành chính và thi hành án hành chính. Trong đó, yêu cầu bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tập trung thực hiện như nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước nhằm hạn chế phát sinh khiếu kiện hành chính; nâng cao chất lượng ban hành quyết định hành chính, thực hiện hành vi hành chính; xác định trách nhiệm, có biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật đối với người có thẩm quyền ban hành và tham mưu ban hành quyết định hành chính, thực hiện hành vi hành chính trái pháp luật; tập trung chấn chỉnh, xử lý những tồn tại, hạn chế trong công tác quản lý nhà nước về đất đai, nhất là trong việc lập quy hoạch, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất, việc thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

Đặc biệt, các bộ, ngành, địa phương phải tổ chức thực hiện nghiêm Luật Tố tụng hành chính, kiến nghị sau giám sát của Ủy ban Tư pháp; khi có đơn khởi kiện vụ án hành chính, phát sinh thủ tục tố tụng, với tư cách là người bị kiện, cơ quan hành chính, người đứng đầu cơ quan hành chính phải giải trình, chứng minh tính đúng đắn, hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện; cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ của vụ án; thực hiện nghiêm trách nhiệm tham gia phiên tòa, nhất là việc tham gia đối thoại để giải quyết vụ án. Trong quá trình đối thoại, nếu thấy việc ban hành quyết định hành chính, thực hiện hành vi hành chính không có căn cứ pháp luật phải cầu thị, kịp thời có biện pháp sửa đổi hoặc hủy bỏ quyết định hành chính; dừng, chấm dứt hành vi hành chính bị khởi kiện.

Đáng chú ý, dự thảo đã đề xuất Bộ Tư pháp kiến nghị Chính phủ xử lý trách nhiệm đối với người phải thi hành án là bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong việc chậm thi hành án, không chấp hành, chấp hành không đúng hoặc không đầy đủ nội dung bản án, quyết định của tòa án; Bộ Nội vụ nghiên cứu bổ sung tiêu chí hoàn thành nghĩa vụ thi hành các bản án, quyết định của tòa án về vụ án hành chính trong việc xét thi đua, khen thưởng và bổ nhiệm, phê chuẩn bổ nhiệm lãnh đạo các bộ, ngành, lãnh đạo UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Phạm Hải
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang