PHÁP LUẬT
Cập nhật 16:38 | 25/06/2019 (GMT+7)
.

Không phân biệt chủ thể trong bảo vệ môi trường

08:01 | 04/06/2019
Căn cứ xác định mức phí nước thải sinh hoạt, mức phí thải giữa các đối tượng xả thải là những vấn đề nhận được nhiều ý kiến xung quanh Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 154/2016/NĐ-CP về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải.

Thêm gánh nặng cho doanh nghiệp

Liên quan đến mức phí, Điều 6.1 dự thảo đưa ra 2 phương án thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt của các cơ sở rửa ô tô, rửa xe máy, sửa chữa ô tô, sửa chữa xe máy, bệnh viện, phòng khám chữa bệnh, nhà hàng, khách sạn, cơ sở đào tạo, nghiên cứu, cơ sở kinh doanh, dịch vụ khác. Theo đó, phương án 1 giữ nguyên mức thuế 10% như hiện tại. Cụ thể, mức phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt là 10% trên giá bán của 1m3 nước sạch chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng. Trường hợp cần thiết áp dụng mức thu cao hơn, HĐND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc TƯ quyết định mức cụ thể phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương. Phương án 2 tăng lên mức 15%. Đối với phương án tăng, đại diện nhiều doanh nghiệp (DN) cho rằng không hợp lý. Vì, hiện nay, biểu giá nước sạch do các địa phương ban hành đều đã có sự phân biệt giữa các nhóm người sử dụng như hộ gia đình, đơn vị hành chính và đơn vị kinh doanh, dịch vụ. Chẳng hạn, theo Thông báo 1268/NS-TB ngày 1.9.2015 của Công ty nước sạch VIWACO, các khách hàng tại khu vực Tây Nam Hà Nội giá nước dành cho các cơ sở sản xuất là 13.357 đồng/m3, cơ sở kinh doanh dịch vụ là 25.387 đồng/m3; còn đơn vị hành chính sự nghiệp là 11.448 đồng/m3, các hộ gia đình chủ yếu ở mức 6.869 đến 9.969 đồng/m3. Tại các địa phương khác, dù có sự khác biệt về mức giá cụ thể, song giá nước sạch dành cho cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ luôn cao hơn các cơ sở hành chính, sự nghiệp và hộ gia đình. Như vậy, tương ứng với mức phí bảo vệ môi trường 10%, xét về giá trị tuyệt đối, các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đã phải trả phí nhiều hơn so với các nhóm chủ thể khác. Do đó, việc tăng phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ là tạo thêm gánh nặng cho DN.


Điều chỉnh công thức tính phí

 Nước thải của cơ sở nuôi trồng thủy sản (quy định tại Điểm c, Khoản 2, Điều 2 Nghị định này) áp dụng mức thu cố định, không thu phí biến đổi, cụ thể: đối với tổ chức 2.000.000 đồng/năm, đối với các nhân, hộ gia đình 1.000.000 đồng/năm (Điều 6.2.e dự thảo).

Theo quy định tại dự thảo, mức phí biến đổi được tính dựa trên khối lượng và loại chất ô nhiễm trong chất thải. Điều này sẽ dẫn đến hệ quả là một DN sẽ vẫn phải nộp phí bảo vệ môi trường kể cả khi họ xử lý nước thải đến mức sạch như chất lượng nước uống dành cho người, bởi trong nước uống vẫn có một lượng nhất định các chất gây ô nhiễm dù hàm lượng rất nhỏ ở mức cho phép.

Trong việc quản lý chất lượng nước, có hai loại quy chuẩn là quy chuẩn nước mặt và quy chuẩn nước thải. Quy chuẩn nước mặt được coi là phản ánh ngưỡng an toàn tự nhiên của chất lượng môi trường xung quanh. Nếu nước thải của một DN có chất lượng tốt hơn quy chuẩn nước mặt tức là nước thải này không gây tác động xấu đến môi trường nơi tiếp nhận. Tuy nhiên, theo đề xuất của  dự thảo, giả sử với lưu lượng nước thải 1.000m3/ngày thì DN vẫn phải nộp phí ở mức 171,55 triệu đồng/năm. Từ thực tế này, đại diện nhiều DN cho rằng, cơ quan soạn thảo nghiên cứu điều chỉnh công thức tính mức phí biến đổi trong đó cho phép trừ đi khối lượng các thông số tính phí tương ứng với các thông số này tại quy chuẩn nước mặt. Theo đó, nếu một DN xử lý nước thải tốt, đạt quy chuẩn nước mặt thì sẽ không phải nộp phí bảo vệ môi trường. Còn nếu chất lượng nước thải của DN có thông số ô nhiễm vượt quá chất lượng nước mặt thì sẽ phải chịu phí trên phần vượt quá này.

Liên quan đến mức tính phí, Điều 6.2.e dự thảo quy định các cơ sở nuôi trồng thuỷ sản phải nộp phí theo mức 2.000.000 đồng/năm đối với tổ chức và 1.000.000 đồng/năm đối với cá nhân, hộ gia đình. Việc phân biệt mức phí theo loại chủ thể kinh doanh (tổ chức với cá nhân, hộ gia đình) là chưa hợp lý vì loại chủ thể kinh doanh không liên quan đến tác động môi trường của hoạt động kinh doanh. Không có mối liên hệ nào để suy luận rằng một tổ chức nuôi trồng thuỷ sản sẽ gây ô nhiễm hơn một cá nhân, hộ gia đình nuôi trồng thủy sản. Hơn nữa, quy định theo cách này sẽ làm giảm động lực của các hộ gia đình nuôi trồng lớn chuyển đổi lên hoạt động theo mô hình DN, bài bản, chuyên nghiệp như chính sách quan trọng của Chính phủ. Đại diện Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cho rằng, không nên có sự phân biệt theo loại chủ thể kinh doanh; và việc tính mức phí phải căn cứ theo diện tích mặt nước nuôi trồng.

Phạm Hải
Xem tin theo ngày:
VĂN BẢN PHÁP LUẬT
20:53 10/04/2017
Toàn quốc phấn đấu không phát sinh tụ điểm phức tạp về ma túy; mỗi năm triệt xóa từ 5 - 10% số điểm, tụ điểm và mỗi huyện, quận, thị xã, thành phố (trực thuộc tỉnh) xây dựng được 1 mô hình điểm về phòng, chống ma túy tại xã, phường, thị trấn... Đây là mục tiêu Chương trình phòng, chống ma túy đến năm 2020 vừa được Thủ tướng phê duyệt.
Quay trở lại đầu trang