PHÁP LUẬT
Cập nhật 18:18 | 21/07/2019 (GMT+7)
.
Quản lý, sử dụng cán bộ, công chức nữ trong cơ quan nhà nước

Cần bình đẳng, không cần ưu tiên

08:14 | 27/05/2019
Một trong những nguyên nhân dẫn đến việc quản lý, sử dụng cán bộ, công chức nữ ở Việt Nam hiện nay chưa thật hiệu quả là do nhận thức về bình đẳng giới, về công tác cán bộ nữ, công tác phụ nữ chưa cao. Định kiến giới vẫn tồn tại, đặc biệt ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa...

Nhiều quy định chưa được luật hóa

Phó Viện trưởng Viện Khoa học tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ Tạ Ngọc Hải cho biết: Thời gian qua Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách về bình đẳng giới nhằm tạo điều kiện cho phụ nữ được phát triển toàn diện, trong đó có đội ngũ cán bộ, công chức nữ. Cụ thể, trong các văn bản hướng dẫn của Trung ương về công tác cán bộ đã đưa chỉ tiêu tỷ lệ cán bộ nữ như một quy định bắt buộc khi thực hiện công tác cán bộ. Nhờ đó, công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt cán bộ nữ có chuyển biến tích cực; đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nữ được tăng cường cả về số lượng và chất lượng. Tính đến quý II.2018, tỷ lệ nữ làm việc trong khu vực nhà nước chiếm tỷ lệ cao (đạt hơn 48%) hơn so với tỷ lệ lực lượng lao động nữ và tỷ lệ lao động nữ có việc làm.


Cán bộ nữ cần được quan tâm để phát huy tốt năng lực, vị trí của mình trong công tác

Tuy vậy, nhận định về công tác quản lý cũng như sử dụng cán bộ, công chức nữ trong cơ quan nhà nước hiện nay, tại Hội thảo “Đánh giá thực trạng, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức nữ trong các cơ quan hành chính nhà nước” do Bộ Nội vụ tổ chức mới đây, nhiều ý kiến cho rằng: chưa thực sự hiệu quả, tại nhiều cơ quan, đơn vị chưa thực sự phát huy hết vai trò cũng như nội lực của phụ nữ trong công việc. Điều này thể hiện ở chỗ các bộ, ngành hầu như chưa có chính sách riêng để hỗ trợ, khuyến khích nữ cán bộ, công chức, viên chức tham gia đào tạo, bồi dưỡng... Đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ nữ tham gia đào tạo tại các trường lý luận chính trị, quản lý hành chính nhà nước chưa đạt tỷ lệ từ 30% trở lên theo Nghị quyết số 11-NQ/TW. Ngoài ra, do một số quy định về công tác cán bộ nữ trong các cơ quan nhà nước còn những bất cập, trong đó có chính sách về tuổi nghỉ hưu, về cơ chế hỗ trợ cán bộ nữ trong học tập, luân chuyển công tác; về chăm lo bồi dưỡng, phát triển tài năng nữ...

Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng pháp luật đối với cán bộ, công chức nữ, TS. Trần Thị Minh Châu, Chuyên viên chính Vụ Pháp chế, Bộ Nội vụ chia sẻ: Việt Nam là một trong những quốc gia sớm phê chuẩn Công ước của Liên Hợp Quốc về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ. Tuy nhiên, các quy định về bảo đảm môi trường làm việc, chống quấy rối tình dục cho nữ cán bộ, công chức chưa được luật hóa cụ thể. Đơn cử, các quy định về bình đẳng giới đối với nữ cán bộ, công chức, thực hiện chức năng thai sản, chăm sóc con nhỏ; quy định pháp luật về bảo vệ đời tư... dẫn đến hạn chế tư cách pháp lý của phụ nữ là những vấn đề trong khoảng trống pháp luật hiện nay.

Phá rào cản định kiến giới

 Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới yêu cầu đạt mục tiêu: “Phấn đấu đến năm 2020 đạt 100% cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội có lãnh đạo chủ chốt là nữ nếu ở cơ quan, tổ chức có tỷ lệ 30% trở lên nữ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động”.

Ngoài những “khoảng trống” về quy định, một nguyên nhân khác dẫn đến hiệu quả quản lý, sử dụng cán bộ, công chức nữ ở Việt Nam hiện nay chưa tốt cũng được chỉ rõ là do nhận thức về bình đẳng giới, về công tác cán bộ nữ, công tác phụ nữ còn chưa cao. Định kiến giới vẫn tồn tại, đặc biệt “sâu sắc” ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa dẫn đến việc nhiều nơi chưa quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo đúng mức việc triển khai các nghị quyết cũng như các quy định pháp luật về bình đẳng giới trong phạm vi cơ quan, địa phương mình. Công tác đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ nữ chưa được quan tâm đúng mức, chưa có tính chiến lược lâu dài và thiếu các giải pháp căn cơ, đột phá...

Để khắc phục tình trạng trên, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Nội vụ Hà Nội - TS. Lê Thị Thanh Huyền cho rằng, để nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức nữ trong cơ quan nhà nước, chúng ta phải thay đổi tư duy từ các nhà quản lý cũng như từ chính bản thân người phụ nữ, cần tạo điều kiện cho người phụ nữ được trân trọng và cống hiến, thay đổi chính sách đối với nữ theo phương châm “cần bình đẳng chứ không ưu tiên”.

Về chất lượng công chức nữ và khuyến nghị xây dựng, thực hiện chính sách đối với công chức nữ, Phó Viện trưởng Viện Khoa học tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ Tạ Ngọc Hải nhấn mạnh: Chất lượng công chức nữ là tập hợp các yếu tố phản ánh chất lượng cá  nhân mỗi công chức qua ba nhóm: Thể lực - Trí lực và Tâm lực”. Về phương diện pháp lý, trí lực và tâm lực đã được pháp luật quy định (gần đây nhất là Đề án Văn hóa công vụ); trên thực tế về thể lực thì hồ sơ tuyển dụng, bổ nhiệm quy định phải có giấy khám sức khỏe nhưng yếu tố này ít được các cơ quan quan tâm đến. Vì vậy, khi triển khai xây dựng đề án vị trí việc làm hay thực hiện tuyển dụng, bổ nhiệm…, các nhà quản lý cần quan tâm đến sự khác nhau giữa nam và nữ ở các tiêu chí về y tế, tâm lý, khả năng hành động… Mặt khác, để nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng cán bộ công chức nữ, bên cạnh hoàn thiện thể chế chính sách, cần phá bỏ rào cản tâm lý từ định kiến giới để tăng tỷ lệ nữ giữ vị trí người đứng đầu bởi có những công việc người phụ nữ xử lý tốt hơn.

Bài và ảnh: Trần Hải
Xem tin theo ngày:
VĂN BẢN PHÁP LUẬT
10:27 29/04/2019
Sau 5 năm thi hành, Bộ luật Lao động năm 2012 đã bộc lộ một số điểm vướng mắc, chưa phù hợp với tình hình mới. Do đó, Bộ LĐ, TB-XH đã dự thảo và đang lấy ý kiến về Bộ luật Lao động (sửa đổi) với nhiều nội dung quan trọng như: Mở rộng khung thỏa thuận về giờ làm thêm tối đa; điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu; bổ sung 1 ngày nghỉ lễ là ngày Thương binh, liệt sĩ 27/7.
Quay trở lại đầu trang