PHÁP LUẬT
Cập nhật 10:24 | 16/12/2018 (GMT+7)
.
Thi hành án liên quan đến lãi suất

Sớm có hướng dẫn cụ thể

07:38 | 12/09/2018
Hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ của các tổ chức tín dụng thường có rất nhiều điều khoản phức tạp với ngôn ngữ chuyên ngành; trong khi đó các văn bản pháp luật liên quan lại chưa có hướng dẫn cụ thể, nên việc thi hành đối với các khoản lãi suất trên số tiền phải thi hành án gặp không ít khó khăn.

Khó xác định

Điều 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2017; Thông tư 39/2016/TT-NHNN quy định, khi đến hạn thanh toán mà không trả hoặc trả không đầy đủ nợ gốc (hoặc lãi tiền vay) thì khách hàng phải trả các khoản: Lãi trên nợ gốc; lãi chậm trả nếu không đúng hạn; trường hợp khoản nợ vay bị chuyển nợ quá hạn, khách hàng phải trả lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất áp dụng không vượt quá 150%...

Đối với các khoản vay của tổ chức tín dụng, ngân hàng thì cách tính lãi suất và thời điểm tính lãi suất sau khi bản án của tòa án có hiệu lực pháp luật được tính theo nội dung quyết định của tòa án, thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Khi tổ chức thi hành án, chấp hành viên phải căn cứ vào hợp đồng tín dụng để xác định mức lãi suất này.

Quy định là vậy nhưng khi xem xét hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ chấp hành viên rất khó xác định, bởi vì những hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ của ngân hàng thường có rất nhiều điều khoản phức tạp với ngôn ngữ chuyên ngành rất khó hiểu. Mặt khác, trong hợp đồng tín dụng lại có quy định về rất nhiều loại lãi như lãi suất vay quá hạn, lãi phạt, lãi suất chiết khấu. mức lãi khác nhau trên số tiền vay gốc khiến chấp hành viên không biết phải tính theo loại lãi nào. Về bản chất, chấp hành viên chỉ là người tổ chức thi hành án, nay lại phải kiêm thêm việc tính toán các khoản lãi suất.

Lúng túng xét miễn, giảm

 Thực tiễn hiện nay việc thi hành án đối với phần lãi suất chậm thi hành án đối với các khoản thu, nộp ngân sách nhà nước là rất khó khăn. Người phải thi hành án thuộc diện được xét miễn, giảm các khoản thu, nộp ngân sách nhà nước là người không có tài sản hoặc là người không có thu nhập hoặc có thu nhập chỉ bảo đảm cuộc sống tối thiểu nên việc thi hành cả tiền gốc và tiền lãi là điều khó thực hiện.

Điều 2, Thông tư liên tịch số 12/2015 ngày 15.9.2015 của Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Tòa án Nhân dân Tối cao, Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao hướng dẫn việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu, nộp ngân sách nhà nước quy định, lãi suất chậm thi hành án của các khoản thu, nộp cho ngân sách nhà nước cũng thuộc diện được xét miễn, giảm thi hành án. Trong thực tiễn có rất nhiều bản án, quyết định tuyên lãi suất chậm thi hành án đối với các khoản án phí, tiền phạt… thu nộp ngân sách nhà nước. Trong đó, không hiếm những khoản phải thi hành có giá trị không lớn (dưới 5 triệu đồng) nhưng cũng có lãi suất chậm thi hành án kèm theo. Việc thi hành khoản lãi suất này cũng gặp nhiều khó khăn khi rất nhiều trường hợp người phải thi hành án không có tiền để nộp.

Bên cạnh đó, liên quan đến quy định này, việc áp dụng còn chưa thống nhất, mỗi nơi một kiểu. Ý kiến thứ nhất cho rằng, cần phải tính khoản lãi suất chậm thi hành án là một khoản riêng, độc lập với khoản phải thi hành cho ngân sách nhà nước để xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án theo quy định. Trái ngược với quan điểm trên, có ý kiến cho rằng khoản lãi suất chậm thi hành án được tuyên kèm theo khoản phải thi hành cho ngân sách nhà nước nên khi xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án thì phải cộng gộp cả khoản lãi suất với khoản nghĩa vụ phải thi hành cho ngân sách nhà nước để tính.

Trong khi đó, Luật Thi hành án dân sự và các văn bản liên quan lại chưa có hướng dẫn nên các cơ quan thi hành án dân sự còn gặp nhiều khó khăn trong việc rà soát các hồ sơ thi hành án đủ điều kiện xét miễn giảm. Mặt khác, khoản tiền lãi suất chậm thi hành án nếu để trong một thời gian dài (5 hoặc 10 năm) để đủ điều kiện xét miễn giảm thì khoản lãi suất trên là không nhỏ, thậm chí còn có những trường hợp lớn hơn cả nghĩa vụ phải thi hành án cho ngân sách nhà nước ban đầu.

Đơn cử, theo quy định tại Điểm b, Khoản 1 Điều 61 Luật Thi hành án dân sự nếu khoản phải thi hành án cho ngân sách nhà nước dưới 2 triệu đồng và hết thời hạn 5 năm kể từ ngày ra quyết định thi hành án; hoặc khoản phải thi hành án cho ngân sách nhà nước từ 2 triệu đồng đến dưới 5 triệu đồng và hết thời hạn 10 năm kể từ ngày ra quyết định thi hành án thì được xét miễn thi hành án. Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức thi hành án có trường hợp, khoản phải thi hành án dưới 2 triệu đồng, nhưng sau khi cộng cả khoản lãi suất sau 5 năm thì vượt quá 2 triệu đồng. Để đủ điều kiện xét miễn nghĩa vụ thi hành án thì phải mất 10 năm.

Từ thực tế này cho thấy, cần sớm có hướng dẫn cụ thể hơn về việc áp dụng xét miễn, giảm thi hành án đối với khoản lãi suất này. Bên cạnh đó, cần bổ sung quy định tòa án phải tuyên rõ mức lãi suất trên số tiền phải thanh toán trả nợ trong bản án, để cơ quan thi hành án có cơ sở tính lãi suất một cách chính xác nhất. Đối với số tiền thu nộp ngân sách nhà nước có giá trị nhỏ thì không tuyên lãi suất và quy định rõ hơn về việc xử lý khoản lãi suất trong việc xét miễn giảm thi hành án. 

Nguyễn Minh
Xem tin theo ngày:
VĂN BẢN PHÁP LUẬT
20:53 10/04/2017
Toàn quốc phấn đấu không phát sinh tụ điểm phức tạp về ma túy; mỗi năm triệt xóa từ 5 - 10% số điểm, tụ điểm và mỗi huyện, quận, thị xã, thành phố (trực thuộc tỉnh) xây dựng được 1 mô hình điểm về phòng, chống ma túy tại xã, phường, thị trấn... Đây là mục tiêu Chương trình phòng, chống ma túy đến năm 2020 vừa được Thủ tướng phê duyệt.
Quay trở lại đầu trang