PHÁP LUẬT
Cập nhật 10:53 | 14/12/2019 (GMT+7)
.
Sổ tay

Rút ngắn thời gian giải quyết

08:56 | 30/08/2018

Chỉ kiểm tra hồ sơ giấy tờ mà không kiểm tra thực tế đối với thủ tục đổi tên, chuyển quyền sở hữu kho ngoại quan; thời gian giải quyết thủ tục rút ngắn hơn so với thời gian giải quyết của thủ tục công nhận kho ngoại quan… là những đề xuất đáng quan tâm của Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam (VCCI) đối với dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 68/2016/NĐ-CP quy định về điều kiện kinh doanh hàng miễn thuế, kho bãi, địa điểm làm thủ tục hải quan, tập kết, kiểm tra, giám sát hải quan.

Điều 13, Nghị định 68 về mở rộng, thu hẹp, di chuyển, chuyển quyền sở hữu kho ngoại quan (được quy định tại Khoản 8, Điều 1 dự thảo) quy định, đối với trường hợp đổi tên, di chuyển, chuyển quyền sở hữu kho ngoại quan, doanh nghiệp (DN) phải có “văn bản thỏa thuận giữa bên chuyển quyền sở hữu và chủ hàng hóa gửi kho ngoại quan”. Văn bản này, phải có các nội dung, văn bản liên quan như hợp đồng liên quan đến chuyển quyền sở hữu; văn bản thống nhất của chủ hàng về việc tiếp tục gửi hàng hóa tại kho ngoại quan sau khi chuyển quyền sở hữu trong trường hợp tại thời điểm chuyển quyền sở hữu chủ hàng vẫn có hàng gửi kho ngoại quan… Đối với yêu cầu này, VCCI cho rằng, quy định chưa hợp lý, hạn chế quyền sở hữu của chủ sở hữu kho ngoại quan, nhất là đối với trường hợp người gửi hàng không đồng ý tiếp tục gửi hàng thì chủ sở hữu kho ngoại quan không được chuyển quyền sở hữu thì xử lý như thế nào?

Thực tế, việc chuyển quyền sở hữu kho ngoại quan là thỏa thuận giữa 2 chủ thể (bên chuyển quyền và bên nhận chuyển quyền), bên gửi hàng không phải chủ thể của thỏa thuận này mà là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Vấn đề này đã được quy định tại Điều 167, Điều 170 Bộ luật Dân sự về việc chuyển quyền hưởng tiền phí thuê của bên cho thuê và chuyển nghĩa vụ cung cấp mặt bằng. Cụ thể, bên nhận chuyển nhượng, phải thông báo trước cho bên có nghĩa vụ - tức là bên gửi hàng; bên cho thuê có quyền chuyển nghĩa vụ này cho bên nhận chuyển nhượng miễn là được bên có quyền - bên gửi hàng đồng ý.

Như vậy, bên gửi hàng phải được thông báo về việc chuyển quyền sở hữu kho, và được lựa chọn tiếp tục hợp đồng gửi hàng hay không. Trường hợp lựa chọn không tiếp tục gửi hàng thì hợp đồng chấm dứt theo thỏa thuận và pháp luật. Tuy nhiên, điều này hoàn toàn không ảnh hưởng tới hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng kho giữa bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng. Vì vậy, quy định về việc phải có văn bản đồng ý tiếp tục gửi hàng của bên gửi hàng trong hồ sơ chuyển quyền sở hữu là không có căn cứ pháp lý.

Liên quan đến trình tự đổi tên, chuyển quyền sở hữu kho ngoại quan, tại Khoản 4, Điều 13 sửa đổi quy định, trình tự đổi tên, chuyển quyền sở hữu kho ngoại quan được thực hiện như trình tự công nhận kho ngoại quan. Điều này là chưa hợp lý, bởi khác với thủ tục công nhận, thủ tục đổi tên, chuyển quyền sở hữu kho ngoại quan khá đơn giản về hồ sơ giấy tờ (nhất là trường hợp đổi tên, khi DN chỉ cần cung cấp văn bản chứng minh về việc đổi tên hợp pháp). Cơ quan giải quyết thủ tục không cần thiết phải kiểm tra thực tế kho bãi, thẩm định hồ sơ phức tạp như trường hợp công nhận lần đầu. Do trong những trường hợp này gần như các điều kiện ban đầu của kho ngoại quan là không thay đổi, yếu tố thay đổi không ảnh hưởng đến các điều kiện của kho ngoại quan.

Như vậy, để tạo thuận lợi cho DN và bảo đảm về đơn giản hóa thủ tục hành chính, VCCI đề nghị ban soạn thảo quy định riêng về thủ tục đổi tên, chuyển quyền sở hữu kho ngoại quan theo hướng chỉ kiểm tra hồ sơ giấy tờ mà không kiểm tra thực tế; thời gian giải quyết thủ tục rút ngắn hơn so với thời gian giải quyết của thủ tục công nhận kho ngoại quan.

Nguyễn Minh
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang