PHÁP LUẬT
Cập nhật 14:30 | 17/08/2019 (GMT+7)
.

Trợ giúp pháp lý và dịch vụ thiện nguyện

08:53 | 28/08/2018
Ngoài những chủ thể được quy định trong Luật Trợ giúp pháp lý thì trên thực tế còn có một số tổ chức khác cũng đang sử dụng thuật ngữ để cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho các đối tượng khác nhau trong xã hội như các tổ chức của hội luật gia, đoàn luật sư…

Bảo đảm quyền tiếp cận công lý

Luật Luật sư năm 2006 (sửa, đổi bổ sung năm 2012) đã quy định thực hiện trợ giúp pháp lý (TGPL) là chức năng và trách nhiệm của luật sư đối với xã hội; đội ngũ luật sư phải có nghĩa vụ thực hiện TGPL miễn phí cho các đối tượng được TGPL theo quy định của pháp luật và khi thực hiện TGPL miễn phí, luật sư phải tận tâm với người được trợ giúp như đối với khách hàng trong những vụ, việc có thù lao. Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 theo tinh thần của Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2.6.2005 của Bộ Chính trị một lần nữa nhấn mạnh và đề cao vai trò, trách nhiệm của đội ngũ luật sư như là một điều kiện quan trọng cho việc bảo đảm tốt nhất quyền tiếp cận công lý và TGPL của người dân. Vậy nên, để thực hiện tốt chức năng, vai trò và trách nhiệm của mình đối với xã hội, đặc biệt là đối với nhóm đối tượng yếu thế cần được giúp đỡ về mặt pháp lý bắt buộc mỗi luật sư phải tuân thủ quy tắc đạo đức nghề nghiệp, xem việc thực hiện TGPL là lương tâm và trách nhiệm của mình.

Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 cũng như Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 đều quy định TGPL là trách nhiệm của Nhà nước, Luật không điều chỉnh đối với các hoạt động TGPL theo nghĩa vụ của luật sư, hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý tự nguyện của các tổ chức, cá nhân khác. Theo đó, Luật quy định về tổ chức chuyên thực hiện TGPL do Nhà nước thành lập và hoạt động được bảo đảm từ nguồn ngân sách (Trung tâm TGPL nhà nước) và các tổ chức tham gia thực hiện TGPL, bao gồm: Tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật ký kết hợp đồng thực hiện TGPL với Sở Tư pháp (được nhận thù lao từ ngân sách nhà nước); Tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật đăng ký tham gia TGPL với Sở Tư pháp (hoạt động bằng nguồn lực của mình). Còn cá nhân luật sư, nếu muốn tham gia TGPL thì thông qua hợp đồng với Trung tâm TGPL nhà nước theo pháp luật về dân sự thông qua cơ chế tuyển chọn, khi thực hiện TGPL được nhận thù lao vụ việc từ Trung tâm TGPL nhà nước.

Khác với TGPL thiện nguyện do tổ chức, cá nhân cung cấp theo pháp luật về luật sư và pháp luật khác, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định về nguồn lực bảo đảm cho TGPL, bao gồm: Nguồn lực về tài chính; nguồn lực về người thực hiện TGPL như trợ giúp viên pháp lý, luật sư, tư vấn viên pháp luật, cộng tác viên TGPL với cơ chế bổ nhiệm, tuyển chọn, công nhận khắt khe hơn để bảo đảm tính chuyên nghiệp, chất lượng cung cấp dịch vụ pháp lý. Bên cạnh đó, Luật quy định phạm vi, hình thức TGPL (tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng), thủ tục yêu cầu TGPL, chỉ thụ lý vụ việc TGPL khi có vụ việc cụ thể liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL.

Bảo đảm chất lượng dịch vụ

Về đánh giá chất lượng cung cấp dịch vụ pháp lý nói chung, TGPL thiện nguyện nói riêng do thị trường (khách hàng) đánh giá, còn TGPL theo Luật Trợ giúp pháp lý phải tổ chức thẩm định, đánh giá chất lượng vụ việc TGPL bằng các tiêu chí và văn bản cụ thể như lâu nay vẫn làm. Cơ quan nhà nước trong quá trình giải quyết công việc có liên quan đến công dân không phải có trách nhiệm giới thiệu khách hàng (bao gồm cả người yếu thế) đến tổ chức hành nghề luật sư, nhưng phải có trách nhiệm giải thích quyền được TGPL và giới thiệu đến tổ chức thực hiện TGPL nếu phát hiện họ thuộc diện người được TGPL; Đoàn Luật sư giám sát việc thực hiện TGPL của tổ chức hành nghề luật sư, luật sư theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý; tổ chức chủ quản của tổ chức tư vấn pháp luật có trách nhiệm giám sát việc thực hiện TGPL của tổ chức tư vấn pháp luật, tư vấn viên pháp luật theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý.

Không chỉ có Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định, các bộ luật, luật về tố tụng được ban hành năm 2015 đều ghi nhận với những điều khoản cụ thể về TGPL, bảo đảm TGPL cho các đối tượng để họ thực hiện quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trước tòa án theo Khoản 3, Điều 9 Bộ luật Tố tụng dân sự và Khoản 3, Điều 19, Luật Tố tụng hành chính (TTHC). Thẩm phán khi được chánh án phân công giải quyết vụ việc phải có trách nhiệm giải thích, hướng dẫn cho đương sự biết để họ thực hiện quyền được yêu cầu TGPL theo quy định của pháp luật về TGPL và không ai được hạn chế quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự cũng như trong TTHC.

Trong lĩnh vực hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm bảo đảm cho người bị buộc tội, bị hại, đương sự được TGPL theo Luật Trợ giúp pháp lý thông qua việc giải thích, hướng dẫn, thông báo, chỉ định Trung tâm TGPL nhà nước cử người bào chữa/bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ. Biện pháp bảo đảm quyền được TGPL của người được TGPL còn được quy định, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các trình tự, thủ tục và đã xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng… thì vi phạm nghiêm trọng tố tụng, có thể sẽ bị hủy án hoặc trả hồ sơ điều tra bổ sung hoặc hoãn phiên tòa. 

Như vậy, với những quy định khẳng định của Luật Trợ giúp pháp lý và các bộ luật, luật về tố tụng nêu trên đã có sự phân biệt giữa TGPL và dịch vụ pháp lý thiện nguyện của các cá nhân, tổ chức xã hội. Hoạt động TGPL phải tuân theo các quy định của Luật Trợ giúp pháp lý về đối tượng, tổ chức và người thực hiện… Việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí của luật sư, của tổ chức tư vấn theo Luật Luật sư, Nghị định số 77/2008/NĐ-CP ngày 16.7.2008 của Chính phủ về tư vấn pháp luật không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017. 

Long Nhật
Xem tin theo ngày:
VĂN BẢN PHÁP LUẬT
Quay trở lại đầu trang