PHÁP LUẬT
Cập nhật 19:55 | 10/12/2019 (GMT+7)
.
Giao khu vực biển

Gỡ vướng từ chính sách

07:43 | 19/05/2018
Sau 4 năm thực hiện Nghị định số 51/2014/NĐ-CP của Chính phủ về giao các khu vực biển nhất định cho các tổ chức, cá nhân khai thác, đến nay cả Trung ương và địa phương mới chỉ giao được 13 khu vực biển. Một trong những nguyên nhân của việc giao khu vực biển còn khiêm tốn là do quy hoạch, kế hoạch sử dụng biển chưa được ban hành...

Vướng quy định

 Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, phấn đấu đến năm 2020, kinh tế trên biển và ven biển đóng góp khoảng 53 - 55% tổng GDP của cả nước, xây dựng một số thương cảng quốc tế có tầm cỡ khu vực, hình thành một số tập đoàn  kinh tế mạnh, sẽ xây dựng một số khu kinh tế mạnh ở ven biển.

TS. Tạ Đình Thi, Quyền Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam cho biết, qua 4 năm thực hiện, Nghị định 51/2014/NĐ-CP của Chính phủ đã tạo được hành lang pháp lý, môi trường và điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng khu vực biển để khai thác, sử dụng tài nguyên biển theo quy định của pháp luật, góp phần thúc đẩy kinh tế biển phát triển, có tác động tích cực góp phần giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên các vùng biển được giao. Tuy nhiên, công tác giao khu vực biển theo Nghị định 51/2014/NĐ-CP cho các tổ chức, cá nhân còn ít. Đến nay cả Trung ương và địa phương mới giao được 13 khu vực biển.

Một trong những nguyên nhân là do đến nay vẫn chưa có quy hoạch, kế hoạch sử dụng biển được ban hành, do vậy chưa có cơ sở và căn cứ để giao khu vực biển. Lý giải về việc chậm trễ trong quy hoạch, ông Tạ Đình Thi cho biết: Trước đây, quy hoạch sử dụng biển được Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng, đã trình Chính phủ. Tuy nhiên, vừa qua Quốc hội thông qua Luật Quy hoạch, theo đó quy hoạch sử dụng biển phải dừng lại, thay thế bằng quy hoạch không gian biển. Một nguyên nhân nữa là do cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác quản lý về giao khu vực biển còn rất thiếu, khiến việc lập hồ sơ, kiểm tra khu vực biển tại một số địa phương còn bị động, lúng túng khi đề xuất biện pháp giải quyết. Công tác xây dựng văn bản hướng dẫn thi hành cũng chậm.

Đơn cử, theo quy định của Nghị định 51/2014/NĐ-CP, việc xác định thẩm quyền giao khu vực biển giữa Trung ương và địa phương, giữa pháp luật về đất đai và pháp luật về biển là đường mép nước biển thấp nhất trung bình trong nhiều năm. Song đến nay, đường mép nước biển thấp nhất trung bình nhiều năm vẫn chưa được công bố. Một số văn bản quy phạm pháp luật được ban hành sau Nghị định 51/2014/NĐ - CP, nhưng lại chưa có căn cứ vào các quy định của Luật Biển Việt Nam và Nghị định 51/2014 NĐ - CP dẫn đến quy định chồng chéo, nhất là quy định về thẩm quyền cho thuê đất, giao đất có mặt nước ven biển trong phạm vi vùng biển 3 hải lý, gây khó khăn cho công tác quản lý và giao khu vực biển tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Phân cấp cho địa phương?

Để khắc phục những hạn chế, bất cập của Nghị định 51/2014/NĐ-CP, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chủ động đề xuất và xây dựng nghị định thay thế Nghị định 51/2014/NĐ-CP quy định việc giao các khu vực biển nhất định cho tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên biển. Theo đó, dự thảo lần 1 dự kiến có 5 chương, 35 điều quy định về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng; quy định việc giao, gia hạn, thu hồi, cho phép trả lại một phần hoặc toàn bộ khu vực biển; sửa đổi, bổ sung quyết định giao khu vực biển; công nhận hoạt động sử dụng khu vực biển và phương án giải quyết các tranh chấp về sử dụng khu vực biển.

Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam Vũ Sĩ Tuấn cho biết, dự thảo sẽ có một số điểm mới như: Phạm vi điều chỉnh bao gồm cả các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên biển chưa được quy định tại Nghị định 51 như để thăm dò, khai thác dầu khí; phục vụ nuôi trồng thủy sản; phục vụ mục đích an ninh, quốc phòng. Dự thảo cũng đã xây dựng một điều để thống kê các loại Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư; giấy chứng nhận đầu tư, giấy phép hoặc quyết định cho phép khai thác, sử dụng tài nguyên biển và quy định chung là Giấy phép do các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp, làm cơ sở để lập hồ sơ xin giao khu vực biển.
Đối với trường hợp chưa có quy hoạch, dự thảo quy định có thể áp dụng các quy hoạch ngành, địa phương hoặc giao trách nhiệm cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền xác định khu vực biển để có thể giao khu vực biển khi chưa có quy hoạch. Đối với khu vực biển chưa xây dựng được bản đồ, dự thảo quy định sử dụng bản đồ địa hình đáy biển do Bộ Tài nguyên và Môi trường xuất bản hoặc trên nền hải đồ do Hải quân nhân dân Việt Nam xuất bản.

Về thẩm quyền giao khu vực biển, dự thảo có quy định thẩm quyền giao khu vực biển gồm 3 cấp: Bộ Tài nguyên và Môi trường; UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có biển; UBND cấp huyện (không còn cấp Thủ tướng Chính phủ). Đối với giao khu vực biển để nuôi trồng thủy sản, dự thảo có quy định trình tự thủ tục giao khu vực biển để nuôi trồng thủy sản; điều kiện giao khu vực biển để nuôi trồng thủy sản cho nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Dự thảo cũng quy định trình tự thủ tục cho thuê, góp vốn, chuyển nhượng quyền sử dụng khu vực biển để nuôi trồng thủy sản...

Liên quan đến thẩm quyền giao khu vực biển, Chi cục trưởng Chi cục Biển và Hải đảo tỉnh Quảng Ninh Nguyễn Quang Đức cho rằng, do những bất cập như thiếu quy hoạch sử dụng biển, quy hoạch không gian biển, đặc biệt về thẩm quyền giao khu vực biển... gây khó khăn cho việc xác định khu vực giao tổ chức, cá nhân sử dụng vào những hoạt động nhạy cảm như nhận chìm, đổ thải hay xác định ranh giới trên biển giữa các địa phương; giao khu vực biển cho nuôi trồng thủy sản; giao khu vực biển ở vùng nước có cảng biển...  Vì vậy, dự thảo cần chú trọng đến việc tăng cường phân cấp giao khu vực cho UBND các tỉnh, thành phố có biển. Vì khi được phân cấp cho UBND cấp tỉnh, sẽ góp phần thúc đẩy việc giao khu vực biển được nhanh chóng bởi các thủ tục hành chính được rút ngắn, cũng như việc đổ thải hay nhận chìm... sẽ được xác định rõ ràng, minh bạch hơn.

Bảo Hân
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang