PHÁP LUẬT
Cập nhật 18:32 | 13/12/2019 (GMT+7)
.
Quản lý, bảo vệ rừng phòng hộ:

Bảo đảm tốt sinh kế cho người dân

07:41 | 15/01/2018
Rừng phòng hộ có vai trò quan trọng đối với đời sống con người, nhưng đang bị tàn phá nghiêm trọng dẫn đến những hậu quả rất nặng nề như lũ quét, sạt lở đất… Trước thực trạng đó, để quản lý, bảo vệ và phục hồi rừng phòng hộ, một trong những giải pháp mang tính bền vững là bảo đảm tốt sinh kế cho người dân.

Suy giảm 23%/năm

 Hiện nay nước ta chỉ còn hơn 4,5 triệu hecta rừng phòng hộ, trong đó hơn 60% là rừng tự nhiên. Từ năm 2004 - 2012, diện tích rừng phòng hộ là rừng trồng có xu hướng tăng dần, nhưng đến năm 2013 lại bắt đầu giảm mạnh.

Khác với tính chuyên biệt của rừng đặc dụng và rừng sản xuất, rừng phòng hộ (RPH) Việt Nam đặc trưng bởi tính đa mục đích, đảm nhận các chức năng sinh thái, bảo vệ nguồn nước, đất, chống xói mòn, chống sa mạc hóa, hạn chế thiên tai và điều hòa khí hậu; đồng thời, cung cấp các sản phẩm, dịch vụ phát triển KT - XH địa phương và đời sống cộng đồng gần rừng. RPH Việt Nam bao gồm: RPH đầu nguồn; RPH chắn gió, chắn cát bay; RPH chắn sóng, lấn biển; RPH bảo vệ môi trường sinh thái. Tuy nhiên, thực tế, nhiều năm qua, hệ thống RPH đã và đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức để bảo đảm tính toàn vẹn về diện tích và chức năng sinh thái, xã hội. Theo đó, tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác lâm sản trái pháp luật, nhất là đối với rừng tự nhiên, vẫn diễn ra phức tạp; diện tích RPH liên tục giảm qua các năm. Công tác quy hoạch, bảo vệ, phát triển rừng thiếu đồng bộ với quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch phát triển KT - XH. Nhiều dự án chưa chú trọng đến bảo vệ, phát triển rừng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sinh thái, suy giảm chất lượng rừng, sạt lở đất rừng tăng cao.

Bà Nguyễn Hải Vân, cán bộ nghiên cứu về rừng của Trung tâm Con người và Thiên nhiên cho biết: RPH ở Việt Nam đang suy giảm mạnh cả về diện tích và chất lượng. Chỉ tính từ 2004 - 2014, diện tích RPH đã giảm 1,7 triệu hecta, tương đương tốc độ suy giảm trung bình 23%/năm. Trong đó, RPH là rừng tự nhiên giảm tới 1,43 triệu hecta (chiếm tới 84,1%)... Trong số 59 Ban Quản lý RPH trong phạm vi đánh giá, đã có tất cả 168 lần thay đổi diện tích, trong đó 118 lần thay đổi giảm diện tích. Việc mất RPH đầu nguồn là nguyên nhân chính gây ra lũ quét, sạt lở đất với hậu quả ngày càng nặng nề và khốc liệt.


Rừng phòng hộ bị tàn phá là nguyên nhân gây ra lũ quét, sạt lở đất

Tạo động lực để giữ rừng

Đại diện một số Ban quản lý RPH các tỉnh Quảng Bình, Thanh Hóa, Sơn La, Hòa Bình, Quảng Nam, Kon Tum… cho rằng: Cái khó trong quản lý, bảo vệ RPH hiện nay là chủ rừng nằm xen canh với người dân (đa phần là đồng bào dân tộc thiểu số). Trong số này, nhiều người di cư từ nơi khác đến nên không có hộ khẩu, không được giao đất. Để có đất canh tác, phục vụ cuộc sống mưu sinh, các hộ này thường nén lút vào rừng chặt phá, đốt rừng làm nương rẫy. Trong khi đó, với lực lượng cán bộ làm công tác kiểm tra tại các Ban quản lý rừng của hầu hết địa phương rất mỏng, nhiều nơi phải hợp đồng thuê cán bộ. Vì lương thấp do không có nguồn kinh phí nên không ít trường hợp chỉ làm được một thời gian ngắn rồi bỏ… Vì vậy, muốn giữ được RPH, Nhà nước phải có chính sách tạo được sinh kế bền vững cho người dân, đồng thời có chế độ đãi ngộ thỏa đáng, tạo động lực cho lực lượng cán bộ làm công tác ở Ban quản lý RPH các địa phương - Phó Trưởng ban quản lý RPH Thạch Thành, Thanh Hóa Mai Văn Đảm bày tỏ.

Đồng quan điểm, Phó Giám đốc Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Sơn La Lê Mạnh Thắng cũng cho rằng: Hiện nay mức chi trả dịch vụ môi trường rừng tăng hàng năm, song tại nhiều nơi, số tiền bị chia nhỏ nên mức chi vẫn còn thấp, chưa bảo đảm đời sống cho người dân làm nghề rừng và không tạo thành động lực để bảo vệ rừng. Do vậy, cần tăng cường đôn đốc thu các loại dịch vụ mới, tránh để tình trạng nợ đọng và lồng ghép các nguồn vốn để nâng cao thu nhập, bảo đảm người dân sống được bằng nghề rừng.

Ông Nguyễn Đức Tố Lưu, Trung tâm Môi trường và Thiên nhiên cũng đưa ra những hoạt động nâng cao sự tham gia của cộng đồng trong quản lý và phát triển rừng gồm: Tổ chức lại các tổ bảo vệ rừng hiện có ở các thôn (làng/bản) và xây dựng mô hình “Tổ lâm nghiệp cộng đồng”, do UBND xã trực tiếp quản lý và giám sát, cùng với sự hỗ trợ của các đơn vị chủ rừng; tập huấn nâng cao năng lực và tuyên truyền giáo dục cho các tổ lâm nghiệp về phát triển các mô hình sinh kế, phát triển bền vững cộng đồng dựa vào nội lực; đào tạo kỹ năng mềm cho các tổ lâm nghiệp cộng đồng; tập huấn về kỹ năng tuần tra bảo vệ rừng, sử dụng thiết bị kỹ thuật trong việc quản lý rừng, báo cáo vi phạm rừng, nâng cao hiểu biết về pháp luật bảo vệ rừng, kết hợp với giám sát đa dạng sinh học...

Có thể thấy, Việt Nam đang có cơ hội tốt để cải thiện công tác quản lý, bảo vệ hệ thống RPH (đầu nguồn), thể hiện qua quyết tâm của Nhà nước về “đóng cửa rừng tự nhiên”, tăng cường thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, cải thiện quản trị lâm nghiệp, củng cố đầu mối tham mưu quản lý nhà nước về RPH (thành lập Vụ Quản lý rừng đặc dụng và RPH thuộc Tổng cục Lâm nghiệp)... Tuy nhiên, với sức ép ngày càng tăng đối với tính toàn vẹn của hệ thống RPH, cũng như sự suy giảm khả năng bảo đảm an ninh môi trường - sinh thái, có rất nhiều vấn đề và thách thức đặt ra cần được hiểu rõ, đồng thuận để có giải pháp can thiệp hiệu quả. Đó là: Cần chia sẻ lợi ích và cơ chế khuyến khích tham gia của cộng đồng trong quản lý, bảo vệ, sử dụng, phục hồi RPH bền vững; xác lập hệ thống giám sát quản trị RPH để hỗ trợ đối với các chính sách của Nhà nước hay đầu tư tài chính, huy động các nguồn lực xã hội, cơ chế hợp tác công - tư trong quản lý, bảo vệ RPH... 

Hải Thanh
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang