PHÁP LUẬT
Cập nhật 22:38 | 07/12/2019 (GMT+7)
.
Kiểm soát các điều kiện kinh doanh

Luật pháp hóa các tiêu chí

07:56 | 30/12/2017
Mặc dù, Chính phủ đã có nhiều nỗ lực trong việc tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (DN) bằng việc rà soát cắt giảm, các ngành nghề kinh doanh có điều kiện, tuy nhiên, việc kiểm soát các điều kiện kinh doanh vẫn là câu chuyện dài với nhiều lực cản.

Vẫn ban hành Thông tư

Theo quy định tại Luật Đầu tư và các văn bản liên quan thì bộ, cơ quan ngang bộ, HĐND, UBND các cấp không được quy định về ngành nghề kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh. Tuy nhiên, điều này vẫn diễn ra. Điển hình, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội ban hành Thông tư số 25/2015 ngày 13.7.2015 về đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp, cấp thu hồi giấy chứng nhận đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp và đình chỉ hoạt động giáo dục nghề nghiệp trình độ sơ cấp; Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 197/2015 quy định về hành nghề chứng khoán... Đặc biệt, có những luật, pháp lệnh vẫn tiếp tục giao cho bộ, cơ quan ngang bộ quy định về đầu tư kinh doanh (Luật sửa đổi, bổ sung Luật Hàng không dân dụng; Luật Giáo dục nghề nghiệp...).


Không ít doanh nghiệp kinh doanh khí hỏa lỏng lao đao vì quy định về điều kiện kinh doanh

Trưởng phòng Pháp luật kinh tế tổng hợp, Vụ Pháp luật Dân sự - Kinh tế, Bộ Tư pháp Cao Đăng Vinh cho rằng, trên thực tế nhiều điều kiện kinh doanh vẫn được ban hành trái thẩm quyền hoặc hết hiệu lực nhưng vẫn được áp dụng. Đây không chỉ là sự không thống nhất với Luật Đầu tư mà còn là cơ sở pháp lý để các bộ tiếp tục ban hành thông tư quy định về điều kiện kinh doanh.

Theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, hình thức điều kiện kinh doanh được thể hiện rất đa dạng (giấy phép kinh doanh, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh; chứng chỉ hành nghề, chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp; yêu cầu vốn pháp định...). Tuy nhiên, thực tế lại không như vậy. Đối với một ngành nghề kinh doanh thì chỉ cần 1 trong các loại giấy tờ nêu trên; nhưng cũng có những nghề vừa có điều kiện gia nhập thị trường vừa có điều kiện phải tuân thủ trong quá trình đầu tư. Chính vì thế để tiện cho công tác quản lý thì các văn bản hướng dẫn theo hướng... đủ cả các loại giấy tờ nêu trên. Có những trường hợp chỉ cần cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện thì lại quy định thành cấp Giấy phép. Nhiều nhất là trong lĩnh vực tài chính, phần lớn các điều kiện kinh doanh được quy định dưới hình thức giấy phép hoặc giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, đây là loại điều kiện kinh doanh dễ phát sinh tiêu cực trong quá trình cấp phép, cấp chứng nhận.

Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương Phan Đức Hiếu cho rằng, hệ thống quy định điều kiện kinh doanh đang có 5 nguy cơ gây tác động bất lợi cho hoạt động kinh doanh. Đó là rủi ro, hạn chế cạnh tranh, hạn chế gia nhập thị trường, hạn chế sáng tạo - hình thành chuỗi và làm gia tăng chi phí kinh doanh.

Tùy tiện trong giải thích, áp dụng

 Điều kiện kinh doanh là cần thiết và là yêu cầu tối thiểu, đủ để giải quyết được những bất cập phát sinh từ ngành nghề kinh doanh có điều kiện (Điểm a, Khoản 1, Điều 12 dự thảo Nghị định về điều kiện kinh doanh)

Một tiêu chí quan trọng để xác định ngành nghề kinh doanh có điều kiện là sự cần thiết. Tiêu chí này đã được luật hóa tại Điều 7, Luật Đầu tư. Tuy nhiên, kết quả rà soát gần đây nhất của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam trong 3 lĩnh vực (công thương, giao thông và vận tải; khoa học và công nghệ) cho thấy, đã có 96 điều kiện kinh doanh bị đề nghị bãi bỏ vì không thỏa mãn tiêu chí “sự cần thiết”. Nhưng khó là ở chỗ, xác định thế nào là sự cần thiết thì hiện chưa có văn bản quy định cụ thể vấn đề này. Nếu có văn bản quy định rõ thì số lượng điều kiện kinh doanh bị đề nghị bãi bỏ chắc sẽ nhiều hơn.

Điều đáng nói chính vì chưa có tiêu chuẩn trong để xác định “sự cần thiết” nên có rất nhiều khái niệm không thể xác định được nội hàm (định tính, định lượng) đang tồn tại trong các quy định liên quan đến điều kiện kinh doanh. Không khó để có thể nhặt những từ như “thoáng mát”, “thích hợp”, “đủ sức khỏe”, “có đạo đức tốt”... Những quy định này đã tạo sự tùy tiện cho các cơ quan nhà nước trong việc giải thích và áp dụng. Sự tùy tiện này còn được thể hiện trong việc quy định thời hạn của giấy phép. Thời hạn ngắn, bắt buộc phải gia hạn, khi gia hạn phải có điều kiện (cần và đủ).

Việc cải cách quy định về ngành nghề kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh được Chính phủ, các bộ, ngành xem là nhiệm vụ quan trọng hiện nay nhằm cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh. Có nhiều mô hình đã được triển khai trên thế giới, như thành lập các cơ quan độc lập thuộc Chính phủ như Ủy ban năng suất (Australia), Cơ quan quy định pháp luật tốt (Anh), Cơ quan giải quy chế (Hàn Quốc)... Từ thực tiễn hoạt động của các mô hình (cơ quan) này, nhiều ý kiến đã đề xuất Việt Nam nên thành lập một cơ quan độc lập thuộc Chính phủ, có tính chất chuyên môn sâu, đa dạng về cải cách luật pháp, có nhiệm vụ rà soát, phân tích, đánh giá nhằm cắt giảm những quy định bất hợp lý và trực tiếp, chủ trì thực hiện việc cắt giảm.

Tuy nhiên, có thể thấy vấn đề quan trọng nhất vẫn là luật hóa được các tiêu chí về điều kiện kinh doanh. Hiện dự thảo Nghị định của Chính phủ về điều kiện kinh doanh đang lấy ý kiến rộng rãi. Theo dự thảo này, bộ tiêu chí xác định ngành nghề kinh doanh có điều kiện bao gồm 6 tiêu chí (sự cần thiết; tính hợp lý; tính hiệu lực, hiệu quả; tính cụ thể, rõ ràng, chính xác, dễ hiểu; tính hợp pháp; tính đầy đủ). Cùng với việc quy định bộ tiêu chí nêu trên, dự thảo cũng đã giải thích cụ thể nội hàm của các tiêu chí. Chưa bàn sâu đến tên gọi, thứ tự của các tiêu chí nêu trên, nhưng có thể thấy luật pháp hóa các tiêu chí là một việc cần thiết. Bởi nó là căn cứ pháp lý quan trọng để đề xuất, thực hiện việc cắt giảm, hoặc không đồng ý việc ban hành điều kiện kinh doanh.

Phạm Hải
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang