PHÁP LUẬT
Cập nhật 17:02 | 07/12/2019 (GMT+7)
.
Thu gom và xử lý bao bì thuốc bảo vệ thực vật

Hướng đi mới

09:04 | 25/07/2017
Thuốc bảo vệ thực vật đóng góp tích cực vào năng suất và sản lượng cây trồng nhưng đồng thời cũng gây ra những hệ lụy nhất định, như việc bao bì chứa đựng thuốc không được thu gom, xử lý theo quy trình chặt chẽ, an toàn.

Chưa đánh giá hết tác động môi trường

Theo thống kê của Cục Bảo vệ thực vật (BVTV), lượng bao bì thuốc BVTV thường chiếm khoảng 14,86% so với lượng thuốc tiêu thụ, như vậy mỗi năm thải ra môi trường khoảng 10.550 tấn bao bì các loại. Tuy nhiên, việc đánh giá tác động môi trường của loại “rác thải” nông nghiệp này lại chưa được khảo sát kỹ lưỡng, đánh giá hết mức độ nguy hiểm. Hiện cũng chưa có mô hình thu gom và xử lý bao bì thuốc BVTV phù hợp với đặc thù của nền sản xuất nhỏ, phân tán như Việt Nam; cũng chưa có cơ quan nghiên cứu, xem xét những tác động tiêu cực của bao bì thuốc BVTV một cách hệ thống, từ đó đề xuất mô hình thu gom, làm sạch và phân hủy thuốc bám dính trong bao bì cũng như tiêu hủy bao bì một cách an toàn và hiệu quả nhất. Trong khi phần lớn vỏ bao bì là chai nhựa và các túi polyethylene, đây là các chất khó phân giải. Trong thực tế, một số địa phương đã tổ chức mô hình xã hội hóa công tác thu gom như Hà Nội, Tuyên Quang, Nghệ An… nhưng chưa thực sự bài bản; chưa duy trì được đều đặn, đặc biệt là mức thu phí và cơ chế vận hành còn lúng túng và không bền vững…


Người dân xã Vân Hội, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc bỏ bao bì thuốc BVTV đúng nơi quy định Nguồn: baovinhphuc.com.vn

Hướng đi mới

Theo kết quả nghiên cứu lựa chọn công nghệ làm sạch bao bì thuốc BVTV thì sử dụng các tác nhân oxy hóa để làm sạch nước ngâm bao bì và xử lý dư lượng thuốc còn sót lại trong bao bì. Từ đó rút ra kết luận, fenton là tác nhân oxy hóa tốt nhất để xử lý dư lượng của thuốc BVTV còn sót trong bao bì. Tác nhân này có hiệu quả xử lý cao với tất cả các nhóm thuốc BVTV ở lượng 2 lít H2O2 với 1kg FeCl2 (từ 90 - 97%). Mặc dù vậy, với các loại túi Polyethylene tráng bạc, hiệu quả chỉ phát huy thực sự khi lượng thuốc trong bao hòa tan vào dung môi xử lý. Nếu thuốc còn sót lại trong bao thì các tác nhân oxy hóa không thể xâm nhập và phân giải được thuốc. Việc sử dụng hỗn hợp n - hecxan với fenton vừa có khả năng làm sạch bao bì thuốc BVTV vừa có khả năng làm sạch dung môi hòa tan thuốc.

Hệ thống lưu chứa và xử lý bao bì thuốc BVTV phù hợp với các vùng sản xuất nông nghiệp cũng rất quan trọng trong quy trình xử lý. Hiện ở Hà Nội đang lưu hành phổ biến các loại bể thu gom bao bì thuốc BVTV bằng thùng phi, xi măng 1 ngăn hoặc 2 ngăn, có nắp đậy hoặc không có nắp đậy.

Cần nhân rộng mô hình xử lý bao bì thuốc BVTV

Với việc nghiên cứu thành công thí điểm tại Hà Nội, mô hình thu gom bao bì thuốc BVTV đã mang lại kết quả tích cực nhưng điều quan trọng là cần nhân rộng mô hình này tại nhiều địa phương. Cái khó trong quá trình nhân rộng là nhận thức về tầm quan trọng của việc thu gom bao bì thuốc BVTV hiện nay trở nên bức thiết hơn bao giờ hết. Không chỉ vì việc sử dụng thuốc BVTV làm tăng lượng bao bì mà bao bì thuốc BVTV chứa hóa chất độc hại, bao bì bằng nhựa, nylon khó phân hủy, tồn tại lâu trong môi trường tác động đến môi trường sống, sinh hoạt, sản xuất ngày càng nghiêm trọng.

Một vấn đề nữa là cách tiếp cận về quy trình, mô hình mới còn lúng túng; chưa được phổ biến rộng rãi lợi ích và cách làm. Đặc biệt, chưa có chương trình khuyến khích, hỗ trợ từ các doanh nghiệp kinh doanh thuốc BVTV; sự vào cuộc của các cấp chính quyền và sự hưởng ứng tích cực của người dân.

Kinh phí để nhân rộng mô hình và thực hiện thu gom bao bì cũng như duy trì mô hình này cũng là vấn đề cần suy nghĩ. Không chỉ trông chờ từ các dự án trong nước, nước ngoài; trông chờ sự đóng góp tự nguyện của người dân mà cần trích một phần từ lợi nhuận kinh doanh thuốc BVTV. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cần phối hợp với các bộ, ngành liên quan tìm giải pháp hỗ trợ kinh phí, kỹ thuật… giúp nông dân tham gia tích cực vào mô hình thu gom bao bì thuốc BVTV mới.

Xuân Thọ
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang