PHÁP LUẬT
Cập nhật 22:12 | 17/01/2020 (GMT+7)
.
Sổ tay

Lúng túng cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân

07:44 | 28/04/2017

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 38 Luật Hộ tịch, người nước ngoài, công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài phải nộp thêm giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân… Để thực hiện được quy định này, mặc dù đã có Nghị định và Thông tư hướng dẫn song Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực, Bộ Tư pháp vẫn phải có nhiều công văn hướng dẫn các Sở Tư pháp. Trong đó, phải kể đến Công văn số 1020/HTQTCT-HT ngày 13.02.2015 về việc triển khai thực hiện các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành liên quan đến đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài; Công văn số 4488/HTQTCT-HT về giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân của công dân Đức và công dân Bỉ; Công văn số 1185/HTQTCT-HT về việc cung cấp thông tin liên quan đến việc đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài thay thế các công văn nêu trên.

Tuy nhiên, các công văn trên cũng không gỡ rối được cho Sở Tư pháp địa phương. Bởi, danh mục giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân ban hành kèm theo các công văn nêu trên chỉ liệt kê được giấy tờ của 16/200 nước, vùng lãnh thổ. Trong khi thực tế công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài, công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc nhiều nước khác nhau. Chính vì thế, công chức hộ tịch rất lúng túng trong việc tiếp cận giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân được lập tại nước ngoài. Bên cạnh đó, khi thực hiện hợp pháp hóa lãnh sự các giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp cho người nước ngoài, công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài, cơ quan đại diện Việt Nam thường đóng dấu giáp lai những giấy tờ đã được hợp pháp hóa lãnh sự với giấy tờ chưa được hợp pháp hóa lãnh sự. Điều này, đã làm cho người yêu cầu giải quyết hộ tịch có yếu tố nước ngoài cũng như công chức làm công tác hộ tịch nhầm lẫn là tất cả các giấy tờ trong hồ sơ đều hiển nhiên đã được hợp pháp hóa lãnh sự. Kết quả cuối cùng người dân phải làm lại vì hồ sơ không hợp lệ.

Ngoài vướng mắc nêu trên, liên quan đến việc cấp giấy xác định tình trạng hôn nhân có yếu tố nước ngoài, các Sở Tư pháp cũng đang vướng bởi quy định, khi cá nhân yêu cầu cấp lại giấy xác nhận tình trạng hôn nhân (giấy) hoặc do hết thời hạn sử dụng thì phải nộp lại giấy đã được cấp trước đó (Khoản 6 Điều 22 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP). Thực tế triển khai cho thấy, trường hợp cá nhân được cấp Giấy để sử dụng vào mục đích khác, nay muốn cấp lại thì không thể có giấy đã được cấp trước đó. Ngoài ra, có không ít trường hợp công dân bị mất giấy. Chính vì quy định không khả thi nêu trên, các địa phương lại có công văn xin ý kiến bộ chủ quản. Bộ Tư pháp lại có công văn “gỡ bí” cho từng trường hợp, bởi việc kết hôn có yếu tố nước ngoài luôn có những yêu cầu riêng, phụ thuộc vào pháp luật của nước có người kết hôn với công dân Việt Nam.

 Nghị định số 123/2015 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch có hiệu lực từ ngày 1.1.2016 - tức là thời gian áp dụng chưa lâu, tuổi thọ pháp lý của văn bản không dài, nhưng riêng trong việc xác định tình trạng hôn nhân có yếu tố nước ngoài đã gây lúng túng, khó khăn cho chính cơ quan quản lý. Một lần nữa, các cơ quan quản lý tự buộc mình bằng những quy phạm có tính chất quản lý, phòng ngừa. Chẳng hạn, việc yêu cầu công dân nộp lại giấy đã quá thời hạn - nhằm hạn chế một số đối tượng lợi dụng để kết hôn với người nước ngoài, kết hôn cùng nhiều đối tượng ở các quốc tịch khác nhau - nhưng các nhà làm luật lại chưa tính đến trường hợp bị mất giấy. Thay bằng việc xây dựng được các hàng rào kỹ thuật khác để giảm thiểu việc sử dụng giấy vào mục đích bất hợp pháp thì lại quy định công dân phải nộp lại giấy hết hạn, mà trên thực tế giấy đã hết hạn thì công dân cũng không có khả năng tham gia vào các thủ tục khác. 

Đình Khoa
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang