PHÁP LUẬT
Cập nhật 22:12 | 17/01/2020 (GMT+7)
.
Sổ tay

Minh bạch trong tiếp cận thông tin khoáng sản

08:10 | 25/04/2017
Hiện nay, việc thu thập thông tin về khoáng sản được thực hiện thông qua công tác điều tra cơ bản địa chất và thăm dò đa phần do Nhà nước thực hiện, khai thác thông tin có trả phí. Tuy nhiên, việc tiếp cận thông tin này được đánh giá là chưa minh bạch, với tệ tham nhũng vặt.

Nghị định 15/2012/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Khoáng sản, nêu rõ trường hợp Nhà nước bỏ kinh phí đầu tư cho công tác điều tra cơ bản địa chất hoặc thăm dò khoáng sản thì thông tin thu được thuộc sở hữu Nhà nước. Để tạo sự công bằng về cơ hội cho các doanh nghiệp trong việc tiếp cận thông tin, Nghị định quy định, cán bộ nhà nước phải giữ bí mật; việc cung cấp thông tin về khoáng sản được thực hiện theo thủ tục hành chính và phải trả phí.

Tuy nhiên, không ít doanh nghiệp biết thông tin về khoáng sản thông qua mối quan hệ cá nhân. Việc giữ bí mật các thông tin là khá khó khăn, vì số lượng người biết đến thông tin này tương đối nhiều, nếu có sự rò rỉ thì cũng rất khó quy trách nhiệm. Báo cáo khảo sát về mức độ tuân thủ các quy định pháp luật về minh bạch trong lĩnh vực khoáng sản do Liên minh Khoáng sản công bố vào tháng 3 có những câu hỏi khá sát thực tế về vấn đề này như: Doanh nghiệp biết đến sự tồn tại của mỏ khoáng sản bằng cách nào? Hoặc, làm sao công ty anh (chị) biết về mỏ khoáng sản đó để xin đưa vào quy hoạch? Câu trả lời phổ biến nhất là “bằng mối quan hệ cá nhân”. Kết quả này, cũng tương đồng với nhiều thông tin được đưa ra tại Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) hay Chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI).

Không chỉ khó tiếp cận, hoặc phải tiếp cận theo cơ chế riêng thì tình trạng thiếu chính xác của các thông tin về khoáng sản do cơ quan nhà nước cung cấp cũng là mối bận tâm của doanh nghiệp. Thực tế, để sử dụng thông tin dù bằng con đường nào, doanh nghiệp đã phải trả phí. Nhưng, không có gì bảo đảm rằng thông tin từ các tài liệu đó chính xác và cũng không có cơ chế xử lý khi sai sót xảy ra. Theo cách lý giải của một số chuyên gia, thực tế này xuất phát từ phương pháp tính toán khi thực hiện điều tra cơ bản địa chất. Các liên đoàn địa chất và khoáng sản thường đưa ra kết quả tính toán khả quan nhất có thể, để từ đó được coi là phát hiện điểm mỏ hoặc làm tăng cơ hội khai thác kinh tế và mở ra các hoạt động đánh giá tiềm năng sâu hơn. Điều này, trái ngược với cách tính toán của các doanh nghiệp là luôn phải tính đến tình huống xấu nhất. Một nguyên nhân cũng được đưa ra là do nhiều tài liệu về địa chất của Việt Nam được lập từ hàng chục năm trước nên độ chính xác không cao.

Hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có chủ trương xã hội hóa hoạt động điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản. Tuy nhiên, đến thời điểm này vẫn chưa có doanh nghiệp nào lộ diện. Bởi, hoạt động này có rủi ro rất lớn mà các ưu đãi của Nhà nước chưa đủ hấp dẫn. Do đó, các doanh nghiệp vẫn đợi Nhà nước thực hiện điều tra địa chất, sau đó nếu thấy tiềm năng họ sẽ xin khai thác, hoàn trả chi phí này cho nhà nước. Ở đây có sự mâu thuẫn nhất định, mặc dù quá trình tiếp cận thông tin khoáng sản được đánh giá là chưa minh bạch (phải bằng quan hệ riêng…) và cũng không có cơ chế giải quyết (như bồi thường) khi thông tin không chính xác, nhưng lại chưa có doanh nghiệp nào đầu tư vào lĩnh vực này. Sự mâu thuẫn này, được giải quyết khi pháp luật thừa nhận thông tin khoáng sản là một dạng tài sản thuộc sở hữu trí tuệ, đa dạng hình thức sở hữu nhà nước, tư nhân. Nếu vậy, sẽ không còn cơ chế xin - cho và hiển nhiên không còn tình trạng thông tin rỗng.

Khang Bình
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang