VĂN NGHỆ
Cập nhật 08:01 | 17/09/2019 (GMT+7)
.

Qua khỏi dốc là nhà

11:15 | 14/02/2018

1. Ngôi nhà nằm trên đỉnh ba con dốc có tên Động Đá, Lối Son, Xóm Làng.

- Tại sao không chọn nơi bằng phẳng mà ở hả cha?

Cha nói: Cha sinh ra đã ở đây.

Cha sinh năm 1950.

Một hôm Hiệu chạy về mồ hôi mồ kê.

 - Xe đạp đâu rồi con?

 - Dưới dốc.

Cha xuống dốc mang xe đạp lên. Giữa sân, chốc ngược xe đạp. Tuột xích, sang vành là bệnh mãn tính của xe. Hiệu đi học về bụng đói, trời nắng, còn phải nhấc nửa trước chiếc xe. Vứt rầm ngay chân dốc.

Về đến dốc là về đến nhà.

Về đến nhà bác Chắt, nhà mình, chị Vân, ông bà Nhung.

- Tại sao nhà mình lại ở đây?

Phát khóc vì về nhà theo ngõ nào cũng phải trèo dốc, những đứa cháu lại vặn vẹo bà nội.

Bà nội đã trả lời vài lần như thế này: Năm 1945 làng mình lụt to. Nước kéo đến ngõ nhà bà Nguyên. Làng dưới bị chìm trong nước. Nước ngập mái nhà. Nhà mình trên cao không sao.

- Bốn, năm mươi năm mới lụt vậy một lần.

- Một lần là mất hết.

- Mất hết là mất những gì?

- Có gì là mất.

Bà hiền từ, cháu thôi không lý lẽ.

Lẽ ra cha phải tìm nơi nào đó chuyển đi.

Chuyển đi đâu?

Đi đâu trong làng xã này? Vào xóm trại hay vào Nam? Chúng tôi chẳng muốn đi đâu. Nếu có lựa chọn, chúng tôi chọn ở đây. Chúng tôi ở đây, bên những người hàng xóm thiết thân là bác Chắt chị Vân.

 Nhưng rồi những người hàng xóm một ngày bỏ đi. Chúng tôi cũng lần lượt ra đi. Ngôi nhà thì chẳng thể đi đâu được.

Ngôi nhà vẫn ở đây, đón chúng tôi mỗi năm vài bận trở về.

2. Lớp năm, cô Hạ ra đề văn tả ngôi nhà.


Minh họa của Thúy Hằng

 Cha về phép, bài tập làm văn về nhà nhờ cha làm. Buổi tối, trước khi đi ngủ nói với cha ngày mai con phải nộp rồi. Sáng ra ngủ dậy trên bàn đã có sẵn bài văn cha viết. Những đứa con chỉ việc nắn nót chép lại. Chữ cha viết đẹp, thưa, dễ đọc. Nhưng nếu viết dài, trang viết của cha luôn có đặc điểm càng về sau càng xiêu vẹo, cẩu thả. Mẹ bảo đọc thư cha, mẹ biết tính cha. Tính cha thiếu kiên trì, dễ nản. Mẹ thì ngược lại, mẹ nóng nảy nhưng làm gì cũng đến nơi đến chốn. Mình vậy là nhận hết nhược điểm của mẹ và cha.

Bài văn hôm đó cô Hạ đọc cho cả lớp nghe. Vợ chồng cô thầy gặp cha mẹ trên đường là dừng xe đạp hỏi thăm các cháu có khỏe không và tiếp theo là khen các cháu học tốt, khen Hà có năng khiếu văn.

“Qua khỏi dốc là nhìn thấy ngôi nhà em”. Bạn Hà đã mở đầu bằng một câu văn giản dị mà truyền cảm.

Cô đọc tiếp. Và dừng lại: Những câu văn khô khốc như con dốc bạn phải vượt qua giữa trưa nắng chang chang đi học về và đi ra đồng gánh lúa. Bạn Hà yêu ngôi nhà của mình từ những khó nhọc.

Cả lớp lặng im nghe cô phân tích. Nỗi khổ của chị em mình khi dẫn vào bài văn nghe cũng thi vị.

Cô Hạ ơi, cô còn nhớ tiết trả bài tập làm văn hôm đó? Cô đi lại giữa hai dãy bàn ghế nâng niu cuốn vở có bài văn tả ngôi nhà điểm tám tươi rói và trái tim em rộn ràng hãnh diện.

3. Nhà trên dốc, gánh nước là công việc ngày nào cũng phải làm. Gánh nước uống. Gánh nước nấu ăn. Gánh nước về tưới cho cây. Gánh nước về cả nhà tắm giặt. Cả nhà - cho đến khi cha về hẳn - là tám người. Bà nội, cha mẹ và năm đứa con. Gánh nước cho cả nhà chẳng đáng là bao. Việc đó có bốn đôi vai làm.
Nước phải gánh nhiều vì nhà nấu rượu, nuôi lợn.

Giếng nước ông Trần trong veo gàu nhỏ múc mãi mới đầy thùng. Xuống nhà ông Trần đi tắt qua ngõ vườn ông Xuân nhanh hơn nhưng ông Xuân không thích. Nhà ông có hai con chó hay sủa. Mỗi gánh nước hai lượt đi qua tiếng chó sủa, tiếng hùi hùi mắng chó, tiếng người trong nhà vọng ra. Qua bốn lượt là ngại.

Đi thẳng xuống giếng nhà cô Quang. Đàn con nhà cô Quang sàn sàn tuổi chị em mình. Chỉ có chị Nghiêm lớn tuổi hơn. Chị Nghiêm đi học sư phạm ở tỉnh thỉnh thoảng về. Mình giặt quần áo, chị ngồi nhặt rau. Nhặt xong rau chị vẫn ngồi. Mình giặt xong quần áo từ lâu vẫn chưa muốn dứt ra câu chuyện. Thấy mình đi lâu là mẹ sai Huân xuống gọi. Cái con lắm điều này lại ngồi lê rồi.

Mùa đại hạn, gánh thùng đi cả cây số mới có nước mang về. Có những mùa phải đạp xe vào xóm trại chở từng can. Bốn giờ sáng đến nơi đã thấy người xếp hàng.

 “Tuổi thơ chị em mình khó nhọc hơn những đứa trẻ khác một phần là vì chuyện gánh nước. Bàn tay thô ráp vì kéo gàu, đôi vai luôn nhức đỏ vì gánh nước quá nặng. Ước mơ ngày đó là gì nhỉ? Hình như chị em mình lớn lên không có ước mơ. Mặc định cứ nhìn vào chum vào bể thấy nước vơi là đi gánh...”

 Mình bảo bà, mai ba giờ thức con dậy xuống trục vực hứng nước mạch. Bà thức cháu dậy không biết là mấy giờ. Trăng cuối tháng sáng mờ. Đi muộn là không có nước. Quẩy gánh mang theo một cái gáo. Múc lên từng gáo nhỏ. Đầy hai thùng nước leo khỏi giếng vực. Gánh nước nhịp nhàng chân bước nhịp nhàng. Bóng tối - mình nghĩ đó là bóng tối bởi ánh trăng vừa khuất trong mây. Chân bước, ngã nhào. Thùng nước cũng ngã nhào. Không phải là bóng tối, đó là một cái hố. Quay lại giếng thì bao người vừa đến.

Giếng Bện Nông của chung cả làng. Giếng Bện Nông không có thành. Trông giống một đầm nuôi tôm thu nhỏ. Bên giếng, người đàn ông trẻ con múc từng xô nước lên dội ào, người chị khòng lưng lội ra bãi sâu hơn nhấc lên hai thùng nước trong sạch sẽ mang về uống, người mẹ giũ màn hành kinh đỏ ngầu một bãi. Mình mang gánh nước đứng tần ngần một lúc đi tìm giếng khác.

Cha nhờ ông Bàng xây cho một cái bể đặt trước sân. Mười hai gánh nước là đầy bể. Ngoài chum, vại trữ nước trong nhà thì chị em mình luôn phải để cho cái bể này không vơi. Nhìn bể nước đầy ắp sung sướng trong lòng.

Mỗi lần bị mẹ nạt, tự ái chuyện gì đó là chị Hằng lại đi gánh nước về đầy bể. Bể bị rò rỉ. Gánh qua hết buổi trưa rồi vẫn chưa đầy. Vì không khi nào cạn bể để kiểm tra nên nó cứ rò rỉ vậy hàng tháng trời mà không biết.

Bà khen mình chăm làm. Mỗi lần nghe bà khen, mình lại hăng hơn. Buổi trưa bọn trẻ chơi đồ hàng thì mình mang thùng đi gánh nước. Mười mấy lượt lên dốc xuống dốc mà không thấy mệt. Cái mệt nhọc của lao động chân tay vốn qua nhanh.

Bác Sâm ngoài Quảng Ninh về. Bác có lái xe riêng. Bác dẫn đàn cháu lên xe lên nhà o Liên. Khi xe quay về đến dốc, ai nấy cười ồ khi thấy hai tay mẹ vung vẩy gánh nước đi lên dốc, vai mẹ gồng lên, mông mẹ đung đưa. Mẹ đang cố vượt dốc cho thật nhanh để tránh ô tô.

Ở nhà bà ngoại không phải gánh nước nhưng về nhà chồng gánh nước gắn chặt đôi vai mẹ. Mẹ gánh nước, mẹ gánh cả gia đình.

 Mẹ mang bầu đứa con gái đầu. Chớm đau bụng, có dấu hiệu sinh thì việc đầu tiên mẹ làm là đi gánh nước. Ông bà nội tuổi đã cao, mẹ phải lo chuyện nước dùng hàng ngày cho cả nhà. Được hai gánh nước thì mẹ bước không nổi. Các anh chị con dì Mậu mừng sự kiện các em ra đời bằng việc thay nhau ra gánh nước giúp dì ngày nằm ổ.

Tuổi thơ chị em mình khó nhọc hơn những đứa trẻ khác một phần là vì chuyện gánh nước. Mỗi trưa, mình gánh nước thì trong nhà cô Quang tiếng trêu đùa cười vang của mấy đứa. Mình thả gàu xuống giếng. Gàu tuột dây, chìm nghỉm. Mình đứng ngẩn ra, sợ hãi.

Bàn tay thô ráp vì kéo gàu, đôi vai luôn nhức đỏ vì gánh nước quá nặng. Ước mơ ngày đó là gì nhỉ? Hình như chị em mình lớn lên không có ước mơ. Mặc định cứ nhìn vào chum vào bể thấy nước vơi là đi gánh.

Một chậu nước nhỏ xíu, bà nội vừa tắm và giặt bộ quần áo mỏng mùa hè. Mình vùng vằng, sao bà phải khổ vậy. Mình xách một xô đầy bắt phải tắm cho bằng hết. Bà tắm mãi, cố cho cháu gái thỏa lòng vẫn không sao hết được một phần ba. Bà cười, bà tắm thế quen rồi.

Hè năm thứ nhất xa nhà trở về, nhìn chậu nước bà tắm xong thấy nghẹn. Bà ơi, với hai gáo nước thôi mà cũng tắm được? Nước đầy cả một bể kia mà bà! Mình bắt bà tắm lại. Mình kỳ lưng cho bà. Mình dội nước lên lưng bà. Một gáo này, hai gáo này, gáo nữa này, bà thấy mát chưa. Mát lắm. Mát lắm. Bà cười thẹn thùng.

4. Dốc Động Đá. Xe bò phân. Mẹ cầm càng, đàn con phía sau làm phanh.

Xe phân nặng quá, xuống lưng chừng dốc đột ngột xe lao mạnh, quá sức giữ của con. Từng bàn tay yếu ớt rời ra. Mẹ la lên oai oái chạy xuôi dốc theo quán tính, tay vẫn cầm càng, chiếc xe chồm lên sau lưng mẹ. Mấy đứa con chạy theo. Dưới chân dốc, mẹ nằm chèm bẹp dưới xe phân. Mẹ bị bong gân, nghỉ dạy mất nửa tháng. May là không gãy chân đấy. Người lớn mắng lũ trẻ con níu xe kiểu gì để mẹ ra nông nỗi này.

Mỗi giáo viên được phân một khoảnh đất sau vườn trường gia tăng sản xuất. Hôm đó mẹ con chở phân tới trường trồng sắn. Giờ mẹ đau chân nằm đấy, mẹ chẳng nề hà cái chuyện đau, chỉ tiếc không dăm cồi sắn cho kịp đợt mưa phùn. Đàn con ngáo ngơ, không có mẹ trực tiếp chỉ huy làm gì cũng hỏng.

Cha rời quân ngũ ở tuổi bốn mươi. Xắn quần xắn áo, cha làm người nông dân.

Việc đầu tiên là mua một con bê. Con bê hai năm sau thành bò cái. Con bò cái chức năng của nó là sinh những con bê. Ở nhà mình, con bò cái kéo cày, kéo bừa, kéo xe. Ngoắc tròng vào cổ, bò ra đồng chở lúa, bò vô động chở củi. Bò ra khe chở cát về cho cha mẹ đóng gạch táp lô. Đêm đêm, chong lên ngọn đèn, mẹ tràng cát, cha nhào vữa. Sẽ là nhà ngói, sẽ là tường xây. Ngôi nhà mới dựng lên bằng những viên gạch táp lô vẫn bền bỉ đó. Vắng hơi người tường đã rêu phong.

Lúa chờ từ ruộng Giếng Thống về qua con dốc Xóm Làng. Con dốc này không dựng đứng sừng sững như Động Đá nhưng dài và lắm đá tảng nhiều đoạn trơn trượt, qua ngõ nhà ông Cử một bên là vực sâu. Trời mưa, lúa trĩu nặng không phải bởi được mùa mà vì sũng nước. Ruộng Giếng Thống mang thu hoạch nhiều nhất mỗi vụ. Vụ trước, ba xe mới chở hết nhưng vụ này lèn hết vào một xe. Cha cầm roi điều khiển bò. Chiếc xe nặng quá, trời mưa lạnh, bò lê từng bước.

Gặt xong lúa, mình về trước nấu cơm với bà. Đang lúi húi trong bếp thì Huy chạy về, bò bị rơi xuống vực rồi, xe đổ đè lên bò, đi cứu bò.

Mình chạy đuổi theo Huy ra chỗ vực. Cha và những người có mặt đang căng thẳng. Một chân trước của bò cố bám vào thành vực một chân khụy xuống trong thế nửa sát đáy vực nửa chơi vơi. Xe lúa đã tháo ra. Những người nông dân tìm cách. Vực hẹp. Thân bò bị ép. Tiếng thở phì phò. Miệng sùi bọt. Và nước mắt. Hàng nước mắt trào ra từ đôi mắt bò đang cầu cứu. Bò khóc. Mình khóc. Huy cũng khóc. Đừng chết, bò. Người ta đang tìm cách cứu bò lên. Cha nói, tại cha, nó không cố được nữa mà cha cứ bắt nó cố.

5. Cha đẹp vậy mà sao không chết trận?

  Mình xem phim, đọc sách thường thấy những người lính trẻ hy sinh được miêu tả rất đẹp.

 Chú Phong gần nhà mình cũng đẹp. Chú rời quân ngũ cùng thời gian với cha.

 Hai người lính trở về quê sau hai mươi năm đi xa.

 Ngày nào chú Phong cũng lên nhà mình tìm cha nói chuyện. Chú cao lêu nghêu, gầy xo, gầy hơn cả cha. Chú đi theo lối tắt, băng qua mấy khu vườn, tay luôn cầm cái roi đề phòng những con chó lang thang. Thấy cha đang ở chỗ nào, chú lại ngồi luôn ở đó. Cha đang thái rau cho lợn, chú lại ngồi bên cây chuối. Cha đang giặt quần áo, chú ngồi bên vại nước. Cha đào cỏ chè, chú đứng ngay dưới gốc cây mít. Mình hái rau khoai về, trời đã chập choạng, vẫn nhìn thấy hai người ngồi chồm hỗm nơi thềm nhà. Hai khuôn mặt khắc khổ.

Chú Phong ít nói. Cha cũng ít nói. Hai người ít nói ngồi với nhau sẽ có một người nói nhiều hơn. Cha đi ra vườn, chú Phong cũng ra vườn theo cha. Mình không rõ họ nói những chuyện gì với nhau.

Chú Phong quân phục vác cuốc ra đồng ngăn con nước. Vẫn bộ quần áo đó trong những lần đến nhà mình. Chắc hẳn chú cũng mặc vậy khi đi ngủ.

 Về nhà nhìn vợ làm việc không khi nào ngơi tay mà đàn con thì vẫn đói ăn. Mình thì cả năm rồi không biết tính cách gì để sống tiếp. Khổ cực long tận óc, chú Phong sinh điếc một bên tai hay chú bị một bệnh gì về viêm tai mà không biết.

Một hôm chú Phong nói với cha đơn vị cũ gọi đi làm. Họ đã thu xếp được cho chú một công việc mới. Thế là chú đi. Nhà mình vắng bóng người khách trầm ngâm tư lự ngồi bên thềm, ngồi bên cha.

Năm 1971, cha là sinh viên năm thứ hai khoa Lịch sử - K14 Đại học Tổng hợp - cùng những người bạn lên xe ra mặt trận.

Tuổi đời phơi phới. Niềm vui phơi phới. Hành trang vào chiến trường của cha còn có thêm thành tích học sinh giải nhì môn Văn miền Bắc.

Chú Phong sinh viên Trường Đại học Kinh tế Kế hoạch.

Bạn với cha trong làng còn có chú Đào học Mã thám.

Những thanh niên ưu tú từ làng đi ra Hà Nội.

Và từ Hà Nội đi vào bom đạn.

Chờ đón họ không phải là bài giảng hào sảng lãng mạn vọng vang trên giảng đường. Chờ đợi họ là cái chết.

Cha thuộc về số người người may mắn sống sót.

Sống sót được qua chiến tranh với mỗi người lính đã là một kỳ tích. Có phải vậy mà những người lính giỏi cam chịu khi trở về cuộc sống đời thường.

Một buổi chiều sau đó hơn ba mươi năm. Mình và cha ngồi ở ghế đá bệnh viện chờ kết quả. Hỏi cha, nếu ung thư thì cảm giác cha thế nào? Cha lặng đi một lúc. Cha nói, tất nhiên là buồn, nhưng nghĩ lại những ngày ở chiến trường, so với anh em thì mình sống được đến hôm nay, có vợ có con, có cả cháu nữa, thì đã được quá nhiều. Anh em họ chết đi chẳng để lại một dấu tích gì. Chốc lát đấy, cảm giác sợ hãi nặng nề chờ giấy bệnh như biến mất. Mình biết cha đang nói thật chứ không phải cố trấn an con gái. Nhật ký chiến trường của cha những ngày đầu năm 1972 là bài thơ tiễn biệt hai người bạn cùng một ngày lên đường đã chết ở Xiêng Khoang.

Sau tháng 4.1975, những người lính sinh viên thoát chết lại trở về giảng đường, còn cha theo học sĩ quan ở Sơn Tây.

Sao cha không trở về trường đại học. Nếu cha quay về học như các bạn, có thể cuộc đời cha đã không cực khổ thế này. Nếu... nếu... nếu thế thì lại chẳng có con ngồi đây mà hỏi sao cha không thế này thế khác.

Năm 1990 cha về quê. Một xe bò chở ba rương gỗ, hai rương sắt, một ba lô căng lèn chặt đồ kỷ niệm. Và số tiền ba trăm nghìn. Ngôi nhà trên dốc chí chóe tiếng chị em cãi vã đánh đấm nhau từ nay có cha về.

Giữ lời hứa với các con, ngày hôm sau, cha mẹ đèo nhau ra khỏi nhà và đến chiều thì dắt về một con bê cái.

Con bê này hai cái sừng xấu. Sừng xấu nên người ta mới bán cho mình giá ba trăm nghìn.

Con bê này sẽ thành bò cái. Rồi chúng ta sẽ có một đàn bò. Một đàn bò con đực đi cày, con cái sinh bê con, rồi ta lại bán tha hồ tiền.

Truyện ngắn của Phan Thúy Hà
Xem tin theo ngày:
ÂM NHẠC
14:59 11/02/2015
Cuối năm 2014 đầu năm 2015, chương trình Lửa của nghệ sĩ piano Phó An My, nhạc sĩ Đặng Tuệ Nguyên cùng các diễn viên Nhà hát Tuồng Việt Nam đã mang đến cuộc đối thoại thú vị giữa piano - khí cụ của châu Âu và tuồng - nghệ thuật sân khấu dân gian Việt Nam, dựa trên sự tôn trọng đặc thù của từng loại hình.
Quay trở lại đầu trang