VĂN NGHỆ
Cập nhật 11:28 | 28/02/2020 (GMT+7)
.
Những tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng

Thư pháp trừu tượng

08:13 | 07/09/2015
Hans Hartung có thể xem là họa sĩ châu Âu đầu tiên đưa cảm hứng thư pháp lên mặt toan, rồi tranh in đồ họa. Những ký hiệu trừu tượng đã tạo nên cảm xúc mới ở Pháp và nhanh chóng lan rộng. Nổi tiếng nhất là series tranh khắc axit được ông làm sau năm 1953, kết nối ngoạn mục hội họa phương Tây và phương Đông.

T1937 - 33, sơn dầu của Hans Hartung, vẽ năm 1937, hiện thuộc bộ sưu tập của Tate

Giống như những tấm lưới đan vào nhau, đa số tác phẩm năm 1953 của Hartung không có tên cụ thể mà được đánh theo số, hoặc là số năm, hoặc là số bản in. Cung cách này của ông có lẽ được bắt đầu từ năm 1937, khi ông đặt cho tác phẩm trừu tượng sơn dầu ký hiệu T1937-33. Ở điểm khởi phát này, Hartung dường như ảnh hưởng đậm nét từ bậc thầy trừu tượng Kandinsky. Các mảng màu như được tạo ra ngẫu nhiên làm nên sự chuyển động. Nhưng đến năm 1949, ở tác phẩm T49-9 ông đã chuyển hướng hoàn toàn sang lối sử dụng các nét đen trên nền màu tạo không gian. Một cảm hứng đầy chất thư pháp như được manh nha hình thành.

Việc hướng về phương Đông của các họa sĩ châu Âu có thể xem bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX khi những tác phẩm tranh khắc gỗ màu Nhật Bản trở thành cơn sốt. Các họa sĩ Hậu ấn tượng như Van Gogh, Gauguin coi các tác phẩm đó như nguồn cảm hứng để hình thành nên hình thức tạo hình mới là các đường nét tạo không gian, nét viền đen. Đến Hartung, việc khám phá nghệ thuật thư pháp Trung Quốc lại là hướng đi khác sau Thế chiến 2. Có lẽ không còn là vấn đề ngữ nghĩa của những con chữ vốn đã mang sẵn tính tạo hình được đưa vào hội họa, mà tinh thần của thực hành theo lối thư pháp đã được ông áp dụng. Các nét, điển hình là tác phẩm 24, chủ yếu là nét đen, đã trở thành hệ thống thị giác hoàn toàn khác. Chúng tạo ra nhịp điệu và không gian, cuốn hút người xem bởi yếu tố rỗng - đặc như vô hình trên nền giấy. Mật độ thưa - mau, dày - mỏng ấy đã đem lại cảm xúc lúc mong manh, lúc mạnh mẽ.

Sinh ra và lớn lên ở Đức, nhưng sự nghiệp của Hartung thực sự nổi tiếng chỉ sau triển lãm cá nhân đầu tiên tại Paris năm 1947. Đây là thời điểm Chiến tranh Thế giới lần thứ 2 vừa kết thúc. Dường như các trường phái nghệ thuật trước Thế chiến đã bị đứt dòng chảy bởi sự hoang tàn của thời cuộc. Nếu chủ đích của các họa sĩ trừu tượng trước Thế chiến 2 thường hướng về tính cân bằng, hài hòa trong thị giác, thì sau giai đoạn này, hội họa như phản ánh sự vỡ nứt sụp đổ trong tâm trạng. Trong các tác phẩm trừu tượng của Hartung, người ta cũng ít nhiều nhận ra nhân tố đó. Hơn thế, lối trừu tượng thư pháp này còn làm nên sự cách tân khác trong nghệ thuật đồ họa vào giai đoạn mà mọi sự cách tân đều đã không còn mới. Các bức khắc axit năm 1953 đã cho khái niệm về việc tạo ra cảm xúc từ những nét khắc vô định hình có chuyển động. Nó mở ra hướng khác cùng với những dạng tranh khắc mô tả hình ảnh cụ thể từ trước đến giờ. Tác phẩm 24 (1953) cho thấy, không gian được tạo ra trong tranh dường như chiếm vai trò cực kỳ quan trọng cho cảm nhận. Đôi khi nó đem lại cảm giác về những vết xước hay vết cào rạch không gian mà một số nhà phê bình liên tưởng đến vết thương chiến tranh.

Có thể thấy, tính thư pháp trong tranh của Hartung không đơn giản là vận dụng thủ pháp tạo hình, mượn phương Đông để biểu đạt, mà đã trở thành kiểu thức riêng rất Hartung. Kiểu thức đó sau này đã góp phần kết nối trừu tượng châu Âu sau Thế chiến với hội họa Mỹ thập niên 1960 với các bậc thầy như Pollock hay Dekooning.

Trang Thanh Hiền
Xem tin theo ngày:
ÂM NHẠC
14:59 11/02/2015
Cuối năm 2014 đầu năm 2015, chương trình Lửa của nghệ sĩ piano Phó An My, nhạc sĩ Đặng Tuệ Nguyên cùng các diễn viên Nhà hát Tuồng Việt Nam đã mang đến cuộc đối thoại thú vị giữa piano - khí cụ của châu Âu và tuồng - nghệ thuật sân khấu dân gian Việt Nam, dựa trên sự tôn trọng đặc thù của từng loại hình.
Quay trở lại đầu trang