VĂN NGHỆ
Cập nhật 07:52 | 26/06/2017 (GMT+7)
.

Hồn xưa lưu lạc (Phần cuối)
Truyện ngắn của Tống Ngọc Hân

08:13 | 15/04/2015

>> Hồn xưa lưu lạc (Phần 1)

Thằng đệ tử to nhất bọn, liếc cái chuồng trâu nhà hắn, giọng mơi mơi. Hay là chơi nốt đi.

Còn gì để mất đâu. Cái chậu rửa mặt của ba đời đàn bà làm dâu họ Giàng hắn còn bán được thì sá gì cái chuồng trâu mồ côi. Trận rét đậm rét hại vừa rồi giết hết đàn trâu nhà hắn. Chứ còn trâu, chỉ ba con là xong cái nợ ngân hàng rồi. Con trâu với người Mông là linh vật. Dẫu chúng chết rồi nhưng hồn vía chúng còn. Bán chuồng rồi thì hồn vía chúng về đâu? Về đâu thì về. Bán mới trả hết nợ. Hắn thách. Mười lăm triệu đấy, chơi không?

Ông khách nhếch mép cười một cái. Hai thằng dỡ chuồng trâu, hai thằng dỡ bờ rào đá. Cứ gấp gáp khẩn trương như sợ hắn đổi ý. Chuồng trâu nhà hắn với những cái văng, cái cột vuông vức bằng pơ mu bóng như sừng, đẹp nhất vùng. Ruột hắn, ai dứt ra từng khúc. Ông khách vẫn thèm thuồng nhìn cây khèn đại bóng nhoáng treo trên cột. Cây khèn buộc chùm vải đỏ to đã chuyển màu, đen đúa. Hắn vằn mắt. Ngay từ đầu hắn đã nói là không bán báu vật ấy. Có chết cũng không bán.

Tiếng xe nổ giòn giã, khói phụt đen ngòm cả con dốc đá dài chênh vênh. Khói nhuộm đen cả những chùm mây trắng nõn đang dùng dằng dắt nhau lên núi Rồng. Trời đã quá trưa. Vợ hắn có tiền trong tay, đi mua ngay mì tôm về nấu đầy một chảo cho trẻ con ăn tạm. Hắn lệnh khệnh lên đường. Sao có thể nuốt trôi thứ gì lúc này.

Tối mịt hắn về, khoe đã trả hết nợ ngân hàng rồi. Hắn lôi trong bao tải ra mấy cái chậu, cái xô nhựa lớn nhỏ, đủ các màu, vài cái thìa kim loại, mấy cái ghế nhựa đỏ, chục bát sứ, cái nồi nhôm hắn bảo để thay cái chõ đồ mèn mén. Bọn trẻ con thấy hay hay, xúm vào xem. Vợ hắn dửng dưng.

Đêm không có bờ rào đá che chắn, gió thốc từ thung lũng lên, lùa vào căn nhà trống trải, lạnh không ngủ được. Hắn như con bù nhìn sau vụ gặt, chơ vơ trên thang ruộng. Cả đêm hắn thức, nghe hồn vía đàn trâu gõ móng lộp cộp vì rét trên nền chuồng cũ.

Con gà mới gáy dạo, hắn đã vọt lên rừng. Cầu thang này, thùng chứa nước này, chõ, máng cối, cở này… Hằng trăm thứ cần thiết mà hắn chỉ còn một cái búa, một con dao và hai cánh tay rã rời như đi mượn của ai chứ không phải mọc ra từ cơ thể hắn. Hắn gục xuống một cái gốc cây mục. Chiều tối, người ta thấy hắn lững thững về người không.

***

Hắn hăm hở ngược dốc. Đi theo lời kể của con Si, rằng đồ đạc của hắn người ta vứt lổng chổng ở một nơi gọi là Bảo tàng Gia đình, qua mấy con dốc dài loằng ngoằng là đến. Hắn phải đến xem bảo tàng là cái gì.

Hắn bất ngờ, những đồ vật cũ kỹ mà hắn đã bán lấy tiền, được bày trong một khu nhà gỗ rộng và đẹp quá. Hắn mân mê sờ vào cái máng ngô vừa xa có mấy ngày mà nhớ đến quay quắt. Hắn úp mặt vào chỗ lõm của cột thang, nơi còn ấm hơi bàn chân những đứa con. Hắn ngây người nhìn những cái thìa gỗ mòn vẹt và cái bát gỗ hình vuông mà cả năm đứa con hắn vẫn dùng để đựng cơm hoặc mèn mén ăn chung. Hắn đực mặt trước cái chậu gỗ vợ thường dùng soi gương rửa mặt. Hắn ngắm nghía cái thùng tắm ghép bằng mười bốn mảnh ván thông mà vợ hắn chỉ bì bõm ngâm mình vào dịp gần Tết, ngày thường hắn dùng để chứa nước mưa uống dần. Đây đúng là cái sừng trâu rượu nhà hắn. Cái sừng đã cùng bố, các anh và hắn đi mấy mươi đám cưới… Và kia, chuồng trâu nhà hắn được kỳ cọ sạch từng cái văng, dựng ngay ngắn bên bờ suối. Chuồng trâu mái cỏ, trong đó treo hai cái võng, hai khách du lịch người nước ngoài đang nằm ngửa, đong đưa trò chuyện. Cái thùng đập lúa ầng ậng thóc nếp vàng óng còn lẫn cả ít rơm tươi. Trong cối có ngô. Trong mắc có dao, những con dao có cái chuôi gỗ mòn, nhẵn thín. Trong bát có ít mèn mén khô tơi tả để bên cạnh cái lọ ớt tiện bằng ống hóp, dùng nhiều đã đen bóng như sừng… Hắn say sưa ngắm cho bõ cái nhớ, bõ cái dằn vặt.

***

Ruột gan chìm nghỉm trong rượu đắng, tiếng nói cũng đắng theo.

- Nợ xong rồi, cười lên tao xem!

Lần này rượu cho hắn cái can đảm quát vợ. Vợ hắn ngước lên. Trong mắt nó có hờn giận, có thờ ơ, trống trải và bao điều khó hiểu tích nén suốt nhiều năm. Nhưng lại không có thứ mà hắn trông đợi. Mày có cười không! Tiếng quát của hắn như sấm nổ khiến thằng con trai giật mình buông tay khỏi bốn chiếc ghế nhựa chồng làm thang cho thằng em leo lên gác. Chồng ghế đứt ra làm ba khúc, thằng bé lên bốn ngã xuống, lịm đi. Hắn hốt hoảng bế con lên, người nó mềm như miếng giẻ dấp nước. Máu từ miệng, từ mũi, từ tai thằng bé trào ra đỏ cả ngực hắn.


Minh họa của Đinh Mão
Thầy cúng được rước về. Cả một đêm dài thầy không tìm thấy hồn của con trai hắn. Phải làm ma cho thằng bé thật to thì thằng bé mới thanh thản được. Tiền không còn một xu. Cái chân vừa rút khỏi bẫy nợ, giờ lại bị bủa vây như cá mắc trong chài. Tục lệ như lão thợ săn kỳ cựu, sừng sỏ. Hắn như con thú bị thương, cùng đường.

Chợt nhớ đến ông khách và cái bảo tàng, hắn nuốt nước mắt gỡ chiếc khèn đại ra khỏi cây cột. Cây khèn đã cho bố hắn rồi đến hắn bao nhiêu cái rẻ sườn trâu khi được trọng vọng mời đi thổi đám ma khắp các bản gần làng xa. Chính hồn hắn, hồn vợ con hắn, hồn ba đời nhà hắn đều trú ngụ êm ái, thân thiết trong cây khèn ấy. Giờ mà bán đi…

 Thấy hắn cầm năm triệu trong tay mà như cầm một bắp ngô thì ông chủ bảo tàng chợt hiểu. Làm đám nhiều tiền lắm, chỗ ấy chẳng thấm gì. Ông hào phóng cho hắn vay thêm ba chục triệu với một điều kiện hắn phải làm không công cho bảo tàng một năm trời. Hắn như kẻ chết đuối vớ được cọc, thò tay vào điểm chỉ.

Sau đám ma con, hắn trắng tay. Gia tài còn lại trong nhà bây giờ chỉ là cái can nhựa hắn mới mua về. Nhưng rượu đựng trong can nhựa đã biến hắn thành kẻ thành kẻ cáu bẳn, lười làm. Hắn uống vào là muốn rời cuốc, buông dao, muốn lìa nương, xa ruộng, muốn chửi vợ, đánh con. Một hôm hắn về nhà. Nhà trống hoác. Hắn bắc tay lên miệng hú gọi. Tiếng gọi của hắn chui vào rừng và không trở ra. Hắn hoang mang, vợ con hắn có thể đi đâu? Hay là… Thôi đúng rồi. Mẹ con nó không chịu được thằng chồng, thằng cha như hắn, đã đem nhau lên phố bán hàng rong cho Tây như con Si và bao đứa đàn bà, con gái bản này rồi. Hắn đấm tay vào cột. Nhục quá là nhục...

***

Ba năm trước, tại Bảo tàng Gia đình ở bản du lịch nổi tiếng, khách tham quan không lạ gì với cảnh một gã Mông trạc ba mươi, quần áo nhầu nhĩ, người nồng nặc hơi rượu, úp mặt vào cái máng cối ngô ngủ ngáy khò khò, mặc khách du lịch quay phim chụp ảnh.

Một hôm, có anh thượng đế trẻ thấy cái chậu gỗ thơm tho có chứa nước, bèn tút giày ra, cởi tất, thò hai chân vào đó ngâm, mắt lim dim khoái chí. Hắn đang say gần đấy, nhìn thấy, sửng cồ quát. Mày vứt ngay cái chân ra! Thượng đế cười khẩy, bàn chân vỗ nước bùm bũm. Hắn nhảy lại, vung tay, thoi một quả vào thẳng mặt anh ta. Cái chậu rửa mặt của vợ tao, ai cho mày đút chân vào? Thượng đế nhổ ra đất một miếng máu, vội vàng rút chân ra. Chủ nhà tím mặt, dìu anh ta lên gác và an ủi:

- Cái thằng điên ấy mà! Khổ quá, đông khách, nó lẻn vào lúc nào tôi đâu có biết.

Hắn bị xua ra khỏi cổng như người ta xua một con chó hay cắn trộm. “Về đi, hôm nay nghỉ sớm, mai lên sớm. Mai ở ngoài chuồng trâu thôi”. Từ lâu, hắn đã thay trâu làm bạn với cái chuồng mồ côi rồi. Việc gì phải dặn. Hắn đã từng hận cái mùi gỗ nhưng lại nhiều lần ước, giá mình là cái chậu gỗ rửa mặt của vợ.

Từ ngày xa vợ vắng con, hồn hắn đi theo những đồ vật đến bảo tàng, đọa đày thân xác say xỉn lấy tiền trả nợ. Hết nợ rồi hắn cũng chả thiết về nữa. Có lần con gái hắn đến, nước mắt ròng ròng, ôm lấy chân bố gào khóc. Hắn tỉnh rượu. Nhận ra con, hắn xấu hổ, giả say như chết. Say nhiều, cái tình trong hắn lả đi, chết giấc. Ngay cả nỗi thèm khát cháy bỏng ngày nào, là được yêu con Si một lần, cũng biến đâu mất.

***

Khách du lịch đến Bảo tàng Gia đình năm nay rất thú vị khi gặp một anh chàng nhân viên người Mông mặc đồ chàm mới óng ánh, nhu mì, lúc ngồi xay ngô, khi nấu rượu, nướng thịt. Anh chàng này nói tiếng Anh trôi chảy. Theo yêu cầu của khách, anh ta còn múa khèn, thổi sáo và đi cà kheo. Anh ta giảng giải về những vật dụng gắn bó máu thịt trong gia đình người Mông, nhỏ như cái thìa gỗ và lớn như cái thùng đập lúa. Và cũng giống như người, những con vật, đồ vật, hoa màu thân thiết với người Mông đều có hồn vía. Anh ta say sưa nói… Và khi anh ta ôm lấy cây khèn Mông thì không một kẻ nào có thể cưỡng lại thứ âm thanh kỳ ảo đầy ma lực ấy. Chim ngừng hót, suối ngừng chảy, mây ngừng trôi. Khách cứ rầm rập đổ về bảo tàng.

Hắn đấy. Ngày nối ngày, rượu vào, hắn bồng bềnh sống bên cạnh những đồ đạc còn nồng nực mùi mồ hôi của bao thế hệ người trong gia đình hắn. Lúc tỉnh táo, hắn lại dằn vặt. Có lẽ nào tổ tiên lại trừng phạt hắn? Đành rằng hắn là kẻ có tội. Nhưng những thứ đồ dùng cũ ấy, nếu để trong căn nhà gỗ tối tăm lụp xụp của hắn thì đã hỏng và mục nát rồi. Ở đây, chúng được bảo quản, trông nom và mỗi năm cả triệu con người trên thế giới biết đến. Biết chúng thuộc về một cộng đồng dân tộc nhỏ bé nhưng tài hoa, có đời sống tinh thần trường tồn, bất diệt. Tại sao lại trừng phạt hắn? Hắn bán tiếng khèn thì đã sao nào? Hắn bán đồ vật chứ đâu có bán hồn vía tiên tổ? Càng dằn vặt, nghĩ ngợi, người hắn càng mụ mị, ngu ngơ.

Gã Do Thái bằng tuổi hắn, mê mẩn Bảo tàng Gia đình Mông, mê mẩn tiếng khèn Mông, năm nào cũng lên núi thăm hắn một lần và ở lại vài tháng. Chính gã dạy hắn thông thạo tiếng Anh, một chút tiếng Pháp và những mánh lới dẫn dụ khách. Còn hắn dạy gã kia tiếng Mông và cách chơi các loại nhạc cụ có trong bảo tàng. Hắn bảo, nhạc cụ người Mông, cái khèn quý nhất vì nó được dùng để gọi bạn tâm tình, gọi hồn gọi vía, dẫn dắt con người đi gặp tổ tiên, gặp gỡ thần linh. Nhờ hắn, gã Do Thái sưu tầm được khá nhiều đồ dùng cũ, quý giá của các tộc người sống dưới chân núi Hoàng Liên.

Một trưa, hai người nằm võng chuồng trâu, gã Do Thái động viên hắn: “Kẻ nào không sống cho chính bản thân mình thì đều là sống giả. Nhưng sống thật mà không cống hiến gì thì sống giả còn hơn”. Nói xong, gã rời võng, đưa tay với cây khèn cũ treo trên cột chuồng trâu, vừa nhảy vừa thổi như kẻ động kinh, chẳng rõ điệu gì. Trời ơi! Ai dạy mày thế? Khèn Mông đâu phải cái điếu ục. Đến như hắn, học khèn từ trong bụng mẹ mà còn chưa thuộc hết nữa là. Ấy thế mà gã Do Thái cứ say sưa khèn như Dở Mủ gọi hồn người chết trong lễ “khai kế”. Hắn như bị xúc phạm, mặt đỏ phừng phừng, giằng lấy cây khèn. Hồn hắn, tự hắn tìm lấy, không mượn nó.

Tiếng khèn dịu dàng, điêu luyện, bay bổng, ngân xa. Cho hắn gặp lại vợ mình thủa còn thiếu nữ. Cho hắn chạm tay vào cái khung cửi mục nát bên cạnh bó lanh đang rên rỉ vì bị mối đùn lên, bọc kín như một cái mả trong góc bếp. Cho hắn gặp ông nội, bà nội và những người đã khuất trong họ Giàng trên giàn “ninh đăng” còn cố nghiêng người, nhìn hắn trách móc. Cho hắn gặp đàn trâu run lẩy bẩy, hướng những đôi mắt xanh lét và những cặp sừng cong nhọn về phía hắn van nài. Nước mắt hắn lăn trên thân khèn.

Gã Do Thái đọc cho hắn nghe cái hợp đồng quái dị. Bảo tàng giờ đã vào tay gã. Lưu diễn là gì? America ở tận đâu? Tại sao họ lại muốn mang cái bảo tàng đi? Tại sao họ muốn mang hắn và tiếng khèn đi? Hắn ngơ ngẩn nhìn ông bạn mà hắn ngỡ đã rất thân như nhìn món đồ quý giá cuối cùng bị tiền mang đi trong cuộc bán mua năm nào.

- Thưa nghệ nhân Giàng A Sùng, giới kinh doanh chúng tôi có thể định giá tất cả các báu vật. Tiếng khèn của ngài sẽ đem đến cho ngài của cải và sự nổi tiếng chứ không phải là những cơn say rẻ mạt trong cái góc chuồng trâu này và những hào bạc lẻ.

Gã Do Thái đi nước cờ cuối cùng sau gần ba năm bày binh bố trận. 

Hắn rơi khỏi võng từ lúc nào. Khuya, sương sa lạnh buốt, hắn ngóc cổ, vịn vào những cái văng chuồng trâu và tiếng khèn mơ hồ đâu đây, từ từ đứng dậy.

Xem tin theo ngày:
ÂM NHẠC
14:59 11/02/2015
Cuối năm 2014 đầu năm 2015, chương trình Lửa của nghệ sĩ piano Phó An My, nhạc sĩ Đặng Tuệ Nguyên cùng các diễn viên Nhà hát Tuồng Việt Nam đã mang đến cuộc đối thoại thú vị giữa piano - khí cụ của châu Âu và tuồng - nghệ thuật sân khấu dân gian Việt Nam, dựa trên sự tôn trọng đặc thù của từng loại hình.
Quay trở lại đầu trang