VĂN NGHỆ
Cập nhật 07:31 | 22/11/2019 (GMT+7)
.

Trường xưa (Phần cuối)
Truyện ngắn của Lại Văn Long

08:58 | 06/01/2015

>> Trường xưa (Phần 1)

Năm tôi học lớp tám, thầy Bình Nam sang làm bí thư xã, thầy Đức Mậu làm hiệu trưởng và cưới cô Ánh. Lớp chúng tôi cùng các bạn lớp chín thương thầy thương cô Ánh nên tự nguyện góp sức xẻ gỗ làm tặng thầy cô một căn nhà riêng ở cách trường không xa. Có bạn kể: Lẽ ra thầy làm bí thư, nhưng cưới cô Ánh là con ngụy, thầy không phát triển được.

Một sáng mưa phùn, thầy Đức Mậu đang giảng bài cho lớp tôi thì cả trường xôn xao, túa ra sân. Mấy chục năm sau tôi chưa quên được hình ảnh sáng hôm đó. Thầy Tuấn người Huế dạy Sử - Địa đầu bị cạo trọc, hai tay bị còng ra sau lưng, trước ngực đeo tấm bảng “Kẻ phản bội tổ quốc” đang bị công an huyện và du kích xã áp giải về ủy ban, đi ngang trường. Thầy Tuấn ốm nhom, xanh mét cúi đầu không dám nhìn ai. Học sinh túa ra đông, có đứa khóc nức nở gọi “thầy Tuấn ơi! Thầy Tuấn ơi!”. Thầy hiệu trưởng cũ, bây giờ là ông bí thư Bình Nam mặc áo pilot, đội nón cối chạy đến quát:

- Nó là thằng phản bội Tổ quốc, không được gọi nó là thầy.

Thầy Đức Mậu bước đến hỏi ông Bình Nam:

- Anh ấy gây ra tội gì?

Ông Bình Nam bảo:

- Vượt biên. Tôi đề nghị đưa về đây để răn đe bọn phản động và khai thác xem nó có đồng bọn không.

Thầy Đức Mậu lắc đầu chán chường:

- Lẽ ra anh phải bảo lãnh cho anh ấy về trường lại rồi chúng ta sẽ kiểm điểm sau. Anh đã làm tổn thương mấy chục giáo viên với hơn năm trăm học trò trường này.

Ông Bình Nam giận dữ rút khẩu súng ngắn đang đeo xệ xệ bên hông dí vào đầu thầy Tuấn:

- Đã phản bội tổ quốc chỉ có bắn bỏ.

Quay sang thầy Đức Mậu, ông gầm gừ đe dọa:

- Anh đừng ỉ thế thương binh dũng sĩ diệt Mỹ can thiệp linh tinh, bênh vực cho bọn phản động.


Minh họa của Đặng Hồng Quân
Thầy Đức Mậu cũng sừng sộ lại:

- Làm gì cũng phải có tình, cũng phải chừa đường sống cho người ta chứ. Cách mạng là khoan hồng, là hướng thiện, là bao dung chứ không phải đàn áp bằng súng đạn.

*
*     *

Tôi học cấp ba ở trường huyện và trọ học ngoài thị trấn. Một chiều cuối tuần năm lớp mười hai, vừa đạp xe về đến nhà đã nghe cả xóm xôn xao. Sáng chủ nhật tôi cùng bà con kéo nhau lên xã thật sớm. Sân trường cũ được căng một mái dù cao, rộng để làm nơi cho tòa án tỉnh về lập phiên tòa xét xử lưu động. Giữa cả ngàn người chen chúc, tôi bàng hoàng nhìn thấy ông Bình Nam, nguyên bí thư xã, hiệu trưởng đầu tiên của trường này. Ông không còn mặc áo pilot, cưỡi xe Honda dame, đội nón cối, đi dép râu, đeo khẩu súng ngắn xệ xệ bên hông. Khuôn mặt kiêu căng tự mãn bây giờ xọm lại, xanh mét, thất thần như mặt của thầy giáo Tuấn bị ông dí súng vào đầu bốn năm trước. Ông bị còng tay, mặc bộ đồ sọc của tù nhân, được dẫn từ trên xe thùng chở tù đến tòa, rồi được áp giải lên vành móng ngựa. Viện kiểm sát đọc cáo trạng, theo đó ông Bình Nam tên thật là Dương Sơn, là giáo viên cấp I học lớp trung cấp chính trị rồi vào Tây Nguyên làm hiệu trưởng. Trong lý lịch của ông chẳng có một ngày trực tiếp đánh giặc, nhưng chiến tranh vừa kết thúc, ông nhanh chân vào Nam ve vẩy súng thị uy với “tàn dư chế độ cũ”. Ông ra rả dạy người lớn trẻ nhỏ phải quyết liệt chuyên chính, phải bài trừ tàn dư Mỹ ngụy, phải phấn đấu làm con người mới xã hội chủ nghĩa… Ông bị khai trừ Đảng, khởi tố, bắt giam rồi trở thành bị cáo trong phiên tòa này với các tội danh: tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa, hiếp dâm nhiều người… Nạn nhân của tội danh thứ hai là những cô những chị làm việc dưới quyền ông, những phụ nữ có chồng đi học tập cải tạo hoặc bị bắt lên xã vì bị ông quy là gian thương, phản động. Hồi đó cứ buôn bán lớn nhỏ đều có tội, đều bị gọi là gian thương. Nhà có người vượt biên hay nghi vượt biên là phản động. Tất cả những phụ nữ bất hạnh đó đều bị ông cưỡng bức. Từng nạn nhân cũng là nhân chứng lên trước tòa, kể tội ác của ông. Ông có thể ép họ ngay trong phòng làm việc ở trụ sở xã, ở nhà riêng của họ hay ngoài đồi hoang, ruộng vắng. Họ vừa kể vừa khóc thảm thiết, còn ông thì đứng như tượng gỗ nhà mồ, khuôn mặt xanh bì trơ ra lì lợm. Có mấy cô giáo cũ của tôi cũng dự phiên tòa, những cô giáo người Nam lẫn người Bắc. Các cô nhìn bị cáo với ánh mắt căm thù. Tôi muốn nghĩ đến một chuyện không hay, nhưng rồi tình thương và lòng kính trọng các cô đã giúp tôi dừng lại. Tôi thấy thầy Đức Mậu đưa cánh tay áo không còn bàn tay lên lau nước mắt. Có lẽ thầy xúc động vì lời kể của các nạn nhân. Tôi nghĩ ngôi trường này đã may mắn khi thầy Đức Mậu kịp về, kịp lên tiếng trước một kẻ độc tài, sa đọa nhân danh hiệu trưởng…

Trong đám đông còn có con Hằng, gọi ông Bình Nam là chú ruột, đang thút thít khóc. Khi ông Bình Nam lên bí thư xã, ba nó cũng được ông đưa từ Bắc vào làm chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp. Mẹ nó làm chủ tịch hội phụ nữ xã, anh nó làm trưởng công an xã, bác nó làm trưởng thôn… Nó học dốt vẫn được làm lớp trưởng, rất hống hách, thường bắt chước chú nó gọi các thầy cô miền Nam là tàn dư Mỹ ngụy. Bây giờ cả gia đình vênh váo chức tước của nó lớn nhỏ già trẻ cùng khóc. Ông Bình Nam bị tuyên án mười tám năm tù, bị áp giải ra xe bít bùng chở về tỉnh.

*
*     *

Hơn hai mươi năm sau phiên tòa đáng nhớ đó, tôi là phóng viên được tòa soạn cử đi điều tra về một băng nhóm giang hồ hoạt động ở khu vực cảng Lotus, thành phố Hồ Chí Minh. Tôi giả là đại diện một công ty có mấy chiếc xe hơi nhập từ Nhật Bản về qua cảng này. Ngoài các thủ tục pháp quy với các cơ quan nhà nước, hàng qua cảng còn phải làm luật với đám xã hội đen bảo kê ở đây. Nếu không, những chiếc xe mới toanh vừa xuất cảng lập tức sẽ bị bọn côn đồ ném đá cho tơi tả, móp méo, bể kính. Tôi được gã cò chơi xì ke mặt xanh bủng, xăm vằn vện trên hai cánh tay dắt đi gặp đại ca của nó. Tôi chở nó trên xe máy, vừa đi nó vừa khoe:

- Đại ca Tư râu cai quản cảng này và các khách sạn, nhà hàng, karaoke, massage… quanh cảng. Ông có cả trăm đàn em dao búa, lại thân thế dữ lắm nên chẳng ai dám đụng. Công ty của anh muốn làm ăn lâu dài phải gặp ổng thôi.

Tên cò đưa tôi đến một quán cà phê sang trọng, vào phòng riêng màn che kín mít, máy lạnh rì rì. Ở đó có bộ sofa vằn vện cùng một gã đàn ông đã già, để râu quai nón, đeo kiếng đen đang được hai cô chân dài váy bó sát cũn cỡn đấm bóp. Tên cò dẫn tôi đến trước mặt gã rồi cung kính thưa:

- Dạ anh này có chuyện nhờ vả anh Tư.

Khi hai cô gái ra khỏi phòng, tôi ngờ ngợ nhìn Tư râu, thấy quen lắm mà không nhớ đã gặp ở đâu. Tư râu nhướng người lên, cất giọng Bắc cố giả tiếng miền Nam trọ trẹ:

- Cần gì cứ nói.

Tôi trình bày về lô xe đang trên tàu sắp về đến cảng. Tư râu gật gù rồi búng tay:

- Mỗi xe một “vé” (100 USD).

Tôi vờ năn nỉ:

- Lúc này công ty em khó khăn, anh Tư bớt chút đỉnh…

Tư râu tháo kiếng đen nheo mắt nhìn tôi cười gằn:

- Vậy thì tìm chỗ khác mà nhờ vả.

Tôi giật mình với nụ cười hống hách đó. Đúng là “cố nhân” rồi. Sau phút bàng hoàng, suy nghĩ rất nhanh, tôi hỏi thẳng:

- Anh là… hiệu trưởng Bình Nam?

Tư râu biến sắc dưới ánh đèn, lật đật đeo lại kiếng rồi chồm tới hỏi:

- Mày là thằng nào?

- Tôi cũng ở vùng kinh tế mới đó những năm sau giải phóng.

- Ra thế… Lẽ ra mày phải gọi tao bằng thầy… mà sao mày xuống đây?

- Tôi đi làm mướn.

Im lặng một lúc, Tư râu bỗng hạ giọng:

- Mày có hay về trên đó không, có nghe ai nhắc đến tao không?

Tôi không trả lời mà hỏi lại:

- Anh ra tù lâu chưa?

- Tao được đặc xá, về đây cũng được sáu năm. Thằng Đức Mậu bây giờ làm gì, mày có gặp nó không?

- Lâu rồi tôi không gặp thầy Mậu.

- Khi nào gặp nó nói tao vẫn… sống. Bị nó tố tao mới ra nông nỗi này.

Uống với Tư râu ly cà phê đá xong, tôi bần thần ra về. Tư râu đưa tôi ra cửa, ánh mặt trời làm tôi thấy ông ta già đi rất nhanh, mặt nhăn nheo, tóc hai bên thái dương bạc trắng. Tôi biết mình không thể viết bài điều tra về đại ca bến cảng này. Dù gì tôi cũng từng gọi Tư râu là thầy.

*
*     *

Tranh thủ chuyến nghỉ Tết về quê, tôi ghé thăm thầy Đức Mậu. Tổ ấm bằng gỗ xẻ lợp tranh mà đám học trò chúng tôi làm cho thầy và cô Ánh hơn ba mươi năm trước bây giờ là ngôi nhà xây rộng, khang trang với khu vườn nhỏ có đá cảnh, những cây mai Nam bộ, cây đào miền Bắc đang ra hoa đón xuân. Thầy Mậu trong bộ bà ba nâu sồng đón tôi với một ống tay áo phủ xuống che bàn tay bị cụt. Tóc thầy bạc trắng, vết thẹo chiến tranh trên má làm thầy lúc nào cũng có vẻ buồn buồn, kể cả lúc cười vui. Tôi biết thầy đã rời chức phó giám đốc sở Giáo dục để về hưu vài năm nay. Hai con của thầy với cô Ánh đã trưởng thành, đều công tác và có gia đình riêng ở thành phố Hồ Chí Minh. Cô Ánh đang ở dưới đó để phụ chăm cháu ngoại mới sinh, nhưng thầy không ở nhà một mình. Tôi bất ngờ gặp trên bộ sofa gỗ ở phòng khách nhà thầy một ông đầu hói, da dẻ hồng hào, mặc pijama màu xanh nhạt. Thầy Mậu rót trà, từ tốn hỏi tôi:

- Em có nhớ ai đây không?

Tôi lắc đầu.

- Thầy Tuấn dạy Sử - Địa đầu tiên của trường mình đấy.

Thầy Tuấn cười hiền hậu, khoe cái răng khểnh của ngày xưa. Tôi mừng quíu lên chạy qua ôm vai thầy. Thầy Tuấn xúc động lau nước mắt. Thầy Mậu kể:

- Ảnh phải vượt biên sáu lần mới tới được Mỹ, giờ về đầu tư mở xưởng chế biến nông sản xuất khẩu ở xã mình. Nhờ chương trình này mà mấy trăm hộ nông dân ở đây thoát nghèo. Ảnh còn giúp nhiều học sinh vượt khó, vào đại học.

Tôi nhìn thầy Tuấn thấy thương thầy đến lạ. Tôi bóp bóp bàn tay nổi đồi mồi, nhăn nheo vì tuổi tác của thầy. Thầy ân cần hỏi thăm gia đình tôi, hỏi tôi bây giờ làm gì? Tôi kể chuyện gặp ông Bình Nam, hai thầy thở dài. Thầy Mậu lấy ra chai rượu thuốc, hỏi tôi:

- Em còn nhớ hồi xưa sau lưng nhà thầy có một cây cổ thụ không?

- Dạ, em nhớ.

- Sau này cây đó chết, thầy để nhiều năm sau mới đào gốc nó lên và gặp một củ sâm rừng nặng đến ba ký. Thầy ngâm củ sâm đó rất lâu mới chiết một ít ra dùng. Nay vui quá, mỗi người mình thưởng thức một ly.

Tôi nhấp chén rượu thơm nồng mùi sâm, rượu chảy đến đâu máu huyết rùng rùng sảng khoái đến đó. Thầy Tuấn nhìn xa xăm ra cửa, mơ màng:

- Phải chi hồi đó anh Đức Mậu về sớm, học trò trong trường đã tránh được cảnh thấy thầy giáo vượt biên bị còng tay.

Thầy Mậu an ủi:

- Số phận cả, bây giờ thế là tốt rồi. Hôm nào tôi với anh sắp xếp đi Sài Gòn thăm Bình Nam. Ngoại bang tàn ác thâm độc ta còn hòa giải được, anh em sao lại không. Các vị không biết chứ, quê tôi chỉ cách làng của Bình Nam một con sông và theo gia phả, chúng tôi còn có họ hàng với nhau đấy.

Xem tin theo ngày:
ÂM NHẠC
14:59 11/02/2015
Cuối năm 2014 đầu năm 2015, chương trình Lửa của nghệ sĩ piano Phó An My, nhạc sĩ Đặng Tuệ Nguyên cùng các diễn viên Nhà hát Tuồng Việt Nam đã mang đến cuộc đối thoại thú vị giữa piano - khí cụ của châu Âu và tuồng - nghệ thuật sân khấu dân gian Việt Nam, dựa trên sự tôn trọng đặc thù của từng loại hình.
Quay trở lại đầu trang