VĂN NGHỆ
Cập nhật 20:14 | 19/10/2019 (GMT+7)
.

Nào ai biết được (Phần 1)
Truyện của Nguyễn Trí

08:52 | 29/12/2014

>> Nào ai biết được (Phần 2)


Minh họa của Đặng Hồng Quân

Tên khai sanh là Hoàng, lót chữ Huy, họ Lò. Lò Huy Hoàng. Nhưng thường gọi Tèo nên chúng bạn gọi Lò Huy Tèo. Người dân tộc Tày, hiền như bột, ai ghẹo chi cũng mặc kệ. Cũng tai mắt mũi họng như bất kỳ thằng nào trong thị trấn, cao mét sáu như ai, nhưng tạo hóa thật ác độc, đã bắt xấu trai thì chớ ông còn không cho Tèo lấy một chút duyên. Xấu, không duyên. Người vậy thì ông tạo ra làm chi trên trần gian nầy hỡi cao xanh ác độc?

 Tèo còn có một gia cảnh ôi chao là thảm đạm. Tiếng là họ Lò, nhưng thực ra chỉ ông anh và bà chị mới thực. Tèo ư? Ông họ Lò chết cả năm năm sau Tèo mới ra đời thì lấy đâu ra Lò chính phẩm? Anh có vợ, chị lấy chồng, bà má cũng có chồng luôn. Ai cơ ngơi nấy nên chả ai thèm giành chi mái nhà tranh dột nát. Thị trấn nơi Tèo ngụ thiên hạ kiếm ăn trong núi bằng nghề chặt củi đốt than, Tèo là đệ nhị nghèo. Nghèo xấu không duyên, đúng là mụ nội cha nó cái cuộc đời.

 Nghe nói chặt củi đốt than ai cũng nghĩ giản đơn. Cứ tưởng ông Trần Khánh Dư nhàn nhã lắm vì vừa gánh vừa ngâm rằng một gánh kiền khôn quẩy xuống ngàn, hỏi rằng chi đó gửi rằng than. Đừng nghe vậy mà bở nghe. Làm than cực lắm. Thuở xăng dầu phải bán phân phối, có câu yêu xe như con quý xăng như máu thì đương nhiên bếp điện, rề xô xài dầu hỏa đem thẩy vô vựa phế liệu ráo và rừng núi phải nai thân ra chịu. Người người nấu ăn bằng củi, kẻ có tí của tậu cà ràng xài than. Dân giải quyết vụ thất nghiệp bằng cách tàn sát rừng, trước làm nương rẫy, cây lớn ra đoạn đào lò đốt than, nhỏ bó lại làm củi. Cái chi cũng ra tiền. Nhưng mà rừng của toàn dân và toàn dân bảo vệ rừng, tàn sát là nguy lắm. Lực lượng bảo vệ treo bảng cấm và ra tay thu giữ tất cả những thứ khai thác lậu từ rừng. Cấm và bắt đã làm giá than củi tăng cao. Bọn phá lâm leo lên đỉnh cao nguyên sinh. Từ đỉnh chúng xé cả trăm con đường đưa hàng về phố. Đừng nói bảo vệ, cả kiểm lâm cũng chịu sầu. Bọn phá lâm được sự hỗ trợ của thiếu đói nên thoắt ẩn thoắt hiện như ma trơi, như quỷ dịch. Vậy là từng vạt núi mầu xanh hóa trơ trụi và đỏ quạch, không thua chi thời chiến người Mỹ phun thuốc khai quang.

 Để chủ nhân một lò than một mình là không thể, phải vài ba anh em dạng vai u thịt bắp mới nên, bởi lò phải nằm trên đỉnh cao chí ít năm trăm mét so với mực nước biển. Có vậy lực lượng bảo vệ rừng mới ngả mũ chào thua. Không phải họ thua cao và sâu mà thua cái bí hiểm của con người. Chuyện bảo vệ bị lâm tặc chống lại là thường ngày ở huyện. Bọn tặc nầy nghĩ cũng tội, chúng kiếm miếng ăn cực như cẩu, bí quá mới manh động chứ vì miếng tồi tàn mà ra xung đột thì chả ai muốn.

 Hãy đưa mắt nhìn qua một cái lò than tí đã nghe. Nhìn đi. Bảo đảm nghe nhìn xong chả ai muốn làm cái nghiệp nầy. Thuở dưới bằng bị cấm hoạt động, lò than được thiếu đói dẫn dụ lên đỉnh cao. Bất kỳ cái lò nào cũng buộc phải nằm bên triền một con suối, lò mà không có nước là chết. Phải truy cho ra một cụm rừng tương đối giàu cây kề bên suối, sau đó mới chọn điểm đào. Phải hạ triền núi cho ra mặt bằng, rồi trên mặt bằng ấy âm xuống một cái hầm có đường kính hai mét, sâu một mét. Đối diện với cái hầm nầy là một mặt bằng khác dùng để chứa củi và than. Hầm được khoét ba lỗ theo phương tam giác sâu vô vách mười phân từ trên xuống đáy để tạo lỗ thông khói. Dưới chân hầm phải có một con mương cũng mười phân chiều ngang chạy xung quanh, khi dựng đứng trong hầm nước trong củi sẽ theo mương mà chảy ra. Hầm phải tạo hai lỗ, một gọi là lỗ lửa nơi dùng để đốt, củi trong lò bị hơi nóng làm cho rút nước, khô lại và âm ỉ cháy. Để tạo được cái lỗ nầy phải tay nghề cao, sao cho khi đốt chỉ hơi nóng được tràn vào, hạn chế đến mức tối đa phần củi ở đây bị ngọn lửa hủy diệt. Lỗ lửa được khoét một bộng mà một người lớn có thể ngồi bên trong, sau đó dùng đá núi xây miệng còn lại tầm ba mươi phân vuông. Khi đốt, hơi nóng sẽ tuôn vào bên trong. Lỗ còn lại là nơi dùng để vô củi và ra than, nó có chiều cao sáu mươi và chiều ngang bốn mươi phân. Sau đó chất củi cho đầy hầm rồi dùng cây rừng tạo một cái sườn hình nón. Cái nón nầy sau khi được xếp dầy đặc cây rừng còn phải phủ lá kè bên trên, để khi nện mui, đất không được lọt kẻ. Vụ nện mui lò phải kỹ một cách đặc biệt. Chí ít phải có bốn anh trai lực điền, cứ phủ lên trên bề mặt một lớp mười phân đất sét là nện xuống bằng cây rừng vót nhọn đầu, mỗi lực điền hai cây, cứ như vậy cho tàn một ngày cật lực là xong phần thô của một cái lò.

 Phải phơi cho lò ráo nước chừng một tuần. Thời gian ấy chủ nhân của nó phải làm chòi che mưa nắng. Xong nơi trú ngụ là bắt đầu nổi lửa. Khởi động một lò than phải chăm chút, cẩn thận từng ly một, lai rai một ngày vài ba mồi lửa cho ấm dần. Khi mui lò bắt đầu có những đốm khô bởi sức nóng lúc ấy mới cho củi trong lò thực sự bốc khói. Cường độ của củi bị cháy âm sẽ làm mui lò nứt nẻ, người ta sẽ dùng bụi tro và đất sét để khắc phục, phải thực cẩn thận, không được đứng trên mui lò làm thao tác trét kẽ, lò sập là chết chắc, ba mét khối củi trong lò chắc chắn thiêu kẻ thọ nạn đến xương cũng ra tro. Sau khi vết nứt đã liền, chủ lò tiếp tục dùng tro và nước quét lên toàn bộ lò như người ta đi một lớp hồ dầu phủ qua tường nhà. Vậy là xong.

Thao tác còn lại là canh ke cho củi hóa than vừa đủ lửa. Nếu quá than sẽ bị nhẹ vì bạc đầu, tức là chúng đang trong quá trình hóa ra tro. Muốn biết phải thử nước ở lỗ vô củi còn gọi là cửa màn. Cái cửa nầy được xây bằng đá núi và đất sét, bên ngoài được áo nước tro. Búng nước ở cửa màn sẽ biết chính xác củi hóa ra than đến đâu. Muốn cho than chín sát gốc hay còn củi là tùy ở thợ. Thường, người ta không cho than chín hết mà để sống một ít để than được tốt và nặng hơn. Nặng và cháy đằm luôn được thị trường ưa chuộng và giá cả cao. Cuối cùng lò được bịt lại ít nhất là ba ngày. Ngày thứ tư, nó sẽ được khui ra để thu hoạch. Lúc bắt đầu vô một lò củi đến lúc ra là mười ngày.

Ra một lò than luôn có hiểm họa rình rập. Sức nóng trong lò luôn trên 50 độ C. Chui vào lò lấy than ra ai giỏi lắm trụ được mười phút. Sức nóng rút sạch mồ hôi của người trực tiếp ra than. Và phún than sẽ khiến ngay hơi thở của họ có mầu đen nói chi chất thải sau cơn ho. Đừng nói đến khẩu trang, người ra than bịt mặt bằng cả một cái áo mà bụi than vẫn tràn vô tận phổi. Bằng chứng là sau khi ra than cả một ngày, ngứa cổ khạc ra vẫn một mầu đen thủi. Ai cũng nhìn thấy sự suy giảm về thể lực và bệnh tật sẽ nhanh chóng đến bởi cái nghiệp nầy, nhưng biết sao bây giờ? Nạn thất nghiệp đến với bất kỳ quốc gia nào sau chiến tranh, ta đâu được phép ngoại lệ. Thôi, ráng đi em ơi. Rồi sẽ qua thôi mà. Đó mới là chuyện thường thôi đó nghe. Nhỡ mà lò bị lại lửa trong khi đang ra than thì có mà chết. Cả ba khối củi xếp đặc ri trong lò chắc chắn có vài lóng bị sầu ruột, chỗ sầu ấy bị sức nóng trên năm mươi độ làm cho bốc hỏa. Nếu không nhanh tay lôi ra thì bà hỏa sẽ nổi cơn điên ngay trong thánh địa của bà. Lửa bốc lên từ than đang nóng nhanh chả kém cạnh chi xăng. Nhưng xăng cháy thì bỏ chạy. Ngu sao đứng đó cho chết? Nhưng than trong lò thì không được chạy mà phải cứu. Nước dưới suối được tập trung, kẽ ra than lôi một đường trực chỉ ngay chỗ phát hỏa và tạt nước vào. Xèo xèo xèo, lửa tắt và cường độ nóng tăng cao bởi hơi nước bốc lên. Lại tạt tiếp cho tắt hẳn, vừa cứu vừa lôi than ra. Cứu được một cái lò lại lửa, người ra than thảm hại không thua Papillon nằm trên cái thảm dừa khi vượt biển để trốn tù.

Như đã nói một mình không thể là chủ nhân một lò than trên cao. Ba bốn anh vô cứu lò lại lửa hoặc chặt củi các cái vân vân cũng chả có chi là vất. Khổ đến đâu làm riết cũng quen. Nhưng chỉ có một mình thì Lò Huy Hoàng tức Tèo làm chi với than? Ai chứ với Tèo thì một mình cũng làm được. Tèo không làm chủ, anh làm thuê các cái, từ chặt củi vô lò ra than gánh than về xuôi. Kiếm đường để tránh lực lượng bảo vệ Tèo rất chi sành điệu. Ai nhìn anh cũng thương lắm (ngoại trừ gái). Anh đen nhẻm, hốc hác đến héo tàn, nhìn cái tướng cà lơ phất phơ tội nghiệp quá trời ơi.

 Nhưng cả thị trấn X tròn xoe mắt, không tin được khi nghe tin Tèo có vợ.

 Vợ của anh xinh có số ở thị xã và là sinh viên cao đẳng sư phạm. Chả hiểu làm sao mà cô bỏ học, theo không anh chàng xấu trai, đen nhẻm và không duyên nầy.

 Huy Tèo có võ chăng? Thiên hạ tự hỏi vậy.

 ***

 Không. Mấy thằng lớn hơn và cùng trang lứa bảo đảm Tèo không võ nghệ chi sất. Nó cũng như mình thôi. Tí Bờm, một thứ thiệt đời bụi bảo vậy. Má ơi. Dẫn nó đi xóm chị em ta, tao còn biểu mấy nhỏ dạy cho nó làm đàn ông nữa kìa… Nghe con Bích Hồng vợ chồng với nó tao ngã ra thiếu điều bất tỉnh.

 Một giang hồ thị trấn xía vô:

 - Mụ nội nó, theo không nữa mới chì.

 - Chắc có gì bí ẩn trong nầy quá. Hay là thằng Tèo có bùa Lỗ ban?

 - Lỗ mãng thì có.

 Thiệt đó nghe, không riêng bọn giang hồ vặt ngạc nhiên đâu, cả thị trấn ai cũng xôn xao tầm cỡ Lý Tiểu Long bị bất đắc kỳ tử. Bọn lính tráng thua cuộc thời Cộng hòa, bọn nầy chinh chiến lâu năm quen thói phong trần nên ăn nói tục hết biết, chúng mà đã kháo thì gái điếm còn đỏ mặt bỏ đi. Vậy mà nghe Bích Hồng là vợ Tèo cả bọn im thít. Đúng là cuộc đời chả biết đâu mà luận cho ra lý. Thì cũng có Chí Phèo và Thị Nở, nhưng hai cái xấu đụng nhau thì đã có câu nồi nào vung nấy. Còn đằng nầy có Hằng Nga nào chịu làm vợ họ Trư không? Vậy mà có mới thật là kỳ cục. Chớ sao vậy Bích Hồng?

 Nàng còn là con gái nhà tư sản. Thời chiến cha má nàng có cửa hiệu tạp hóa rất bề thế. Sau cái biến ’75 của cải bị bọn hôi liếm sạch. Sạch nhưng không trắng bởi má nàng có cái ruột tượng chứa vàng. Có vậy anh em nàng mới ung dung qua thì đói rách. Ai thiếu mặc kệ, Bích Hồng vẫn tiếp tục học hành. Đậu được cái cao đẳng sư phạm, từ thị xã của tỉnh lỵ nghèo nàng lên phố lớn dùi mài. Sau bốn năm. Nghĩa là vào cái năm ra trường nàng về thị trấn thăm bà cô. Hôm đó Tèo bán than cho bà cô già, vừa gặp nàng Tèo bị sét ái tình đánh cho một phát vong mạng.

Tèo vong vì sét là đúng rồi. Xinh như Bích Hồng thì khối cha chi thằng xin chết. Có rất nhiều thứ để vì em mà chết lắm, nhưng có hai cái thực quan trọng. Một là em nhan sắc, hai là nhà em có xiền. Bá vô em là đời ta bớt khổ. Nhưng thế gia thì đã có vọng tộc đi kèm, than củi mà vọng là anh bị điên chắc. Anh có đẹp như Phan An cũng vậy thôi. Vậy thì tại sao thằng Tèo đen và xấu và không duyên và nghèo lại được xách dép cho nàng. Tại sao? Tại sao? Nàng còn dám cuốn một cuốn về nhà Tèo. Mặc kệ ông cha bà má cạch mặt. Trời ơi phải đâu mà Lò Huy Tèo có cái chi đó đặc biệt thì chả nói. Đằng nầy…

Chớ sao vậy Bích Hồng?

Vợ chồng Thuần Túy bóp trán khóc ròng với cô con gái rượu. Câu hỏi này bà Thuần còn không trả lời được nói chi thế nhân. Ông Túy cấm ngặt, nhưng bà vẫn xuống thị trấn vô cái chòi rách hỏi con cho ra lẽ, nhưng cái bướng bỉnh của một cô gái quen được nuông chiều đã làm bà lộn ruột, giận dữ ra về thề không ngó mặt cho đến chết. Ta bà đoán già đoán non, tưởng tượng ra một nghìn lẻ một chuyện mà mấy ông nhà văn không tưởng nổi. Suốt cả một thời gian dài không một trà dư tửu hậu nào chuyện nầy không nằm trên bàn thời sự. Bàn ba láp cho vui chứ nào ai có biết chuyện của hai người. Đúng không?

Không đúng đâu. Chắc chắn là bà Sám – mẹ đẻ của Tèo phải biết.

Bà Sám lận đận tình duyên lắm. Năm đứa con ba đời chồng. Nghe tin con trai vợ chồng với con nhà giàu bà về thăm. Nhìn qua bà biết thằng ngu tình nguyện đổ vỏ ốc cho người khác. Con nhỏ bó bụng che bầu chắc luôn. Nó có thể qua má nó chứ qua sao nổi bà. Nhưng mà biết làm sao? Bà có chồng nuôi con chồng ai nói? Thằng con bà xấu hoắc lấy được con mỹ miều dám chê sao? Nghĩ vậy nên bà Sám mặc kệ mầy luôn, khôn nhờ dại chịu. Bà vừa đi vừa nghĩ rằng, đổ vỏ cũng được, nhưng mà không biết con nhỏ nó có khư khư giữ lấy cái cạp quần, chả cho xơ múi chi mới tội cho mầy. Nghĩ đến đây bà thở một hơi dài thườn thượt.

 Thật như bà Sám nghĩ không? Vâng, thật vậy. Sáu tháng sau khi làm vợ Tèo, Bích Hồng cho ra đời một cậu trai. Lúc nầy thiên hạ chắc trăm phần trăm Tèo ta đổ vỏ cho ai đó. Và ai đó thì chỉ nàng biết mà thôi. Họ chắc rằng em đẹp chả cho thằng ngu làm ăn chi. Lại những trận cười và những câu chuyện tiếu lâm dân gian tục tĩu nói về cái ngu của những gã chồng khờ được bày ra bàn nhậu. Con người ta lạ lắm, rất nhiều người nhẫn tâm đùa cợt trên tật nguyền của kẻ khác. Họ phán những cái tên không quan tâm đến đau đớn của đồng loại. Ê xi cà que, đi đâu mậy? Ê Hùng chột, ê Thu què… Tèo mắt một mí nên họ gọi Tèo Đui. Đủ thứ chê bai dành cho Tèo. Cho đến khi bụng Bích Hồng đội áo lần thứ hai thì thiên hạ mới tắt đài sau câu kết thằng đó nhỏ nhỏ mà có võ.

Rồi thì chả ai rỗi hơi luận chuyện đời. Ông bà Thuần Túy cũng phải mở cửa đón hai đứa cháu ngoại sau khi cha chúng chết. Thật là tội nghiệp. Góa phụ Bích Hồng với thằng lớn mười tuổi, thằng nhỏ tám tuổi về thăm ngoại. Thăm thôi chứ nàng không ở. Nàng có nhà mà, phải ở để thắp hương tưởng nhớ chồng chứ. Anh chết thảm quá mà. Hễ cứ nhìn hai đứa con là cô sướt mướt khóc. Hai đứa nhỏ giống y hệt cha chúng. Tất nhiên là đứa nào giống cha đứa ấy.

(Số sau đăng tiếp)

Xem tin theo ngày:
ÂM NHẠC
14:59 11/02/2015
Cuối năm 2014 đầu năm 2015, chương trình Lửa của nghệ sĩ piano Phó An My, nhạc sĩ Đặng Tuệ Nguyên cùng các diễn viên Nhà hát Tuồng Việt Nam đã mang đến cuộc đối thoại thú vị giữa piano - khí cụ của châu Âu và tuồng - nghệ thuật sân khấu dân gian Việt Nam, dựa trên sự tôn trọng đặc thù của từng loại hình.
Quay trở lại đầu trang