VĂN NGHỆ
Cập nhật 00:19 | 10/04/2020 (GMT+7)
.

Nhịp điệu u sầu của một cuộc hành hương

08:53 | 15/12/2014
Với phần lớn độc giả yêu thích kết cục có hậu, cuốn sách mới nhất của Murakami có lẽ vẫn cho người ta một hy vọng để hướng tới, một niềm tin để yên tâm mà tiếp tục sống.

Bước chân vào thế giới tiểu thuyết của nhà văn Nhật Bản đương đại Haruki Murakami, người đọc dường như phân vân trước hai ngã rẽ. Thứ nhất, là ngã rẽ dẫn ta đến miền đất huyền ảo, nơi cái thực và cái phi thực cùng tồn tại và xâm nhập lẫn nhau, nơi có khả năng, và thực tế là đã xảy ra những điều kỳ quặc nhất, thậm chí nằm ngoài trí tưởng tượng phóng túng của con người. Những cuốn tiểu thuyết như Biên niên ký chim vặn dây cót, Kafka bên bờ biển, Cuộc săn cừu hoang, Xứ sở diệu kỳ tàn bạo và chốn tận cùng thế giới, hay bộ trường thiên 1Q84 là những tác phẩm thuộc loại này. Thứ hai, là ngã rẽ dẫn ta đi thẳng vào đời sống của xã hội công nghiệp hiện đại, được máy móc hóa và lập trình hóa, đời sống mà mỗi người chúng ta đã/đang sống và đã/đang phải đối mặt với tất cả những vấn đề phức tạp, cả ở bề rộng và ở những góc khuất bí ẩn của nó. Rừng Nauy, Phía Nam biên giới, phía Tây mặt trời Người tình Sputnik là những tiểu thuyết thuộc loại này. Và gần đây nhất, là cuốn tiểu thuyết có cái tên khá dài, tương đối bí hiểm: Tazaki Tsukuru không màu và những năm tháng hành hương (Uyên Thiểm dịch, NXB Hội Nhà văn & Nhã Nam, 2014).


Tại sao lại là Tazaki Tsukuru “không màu”? Vì Tazaki Tsukuru - tên nhân vật chính của cuốn tiểu thuyết - trong tiếng Nhật có căn từ nghĩa là “làm”: làm ra, tạo tác một cái gì đó. Trong khi tên bốn người còn lại trong nhóm bạn năm người rất thân từ hồi còn học phổ thông của anh, thì căn từ đều chỉ một màu sắc xác định: Xanh (Oumi Yoshio), Đỏ (Akamatsu Kei), Đen (Kurono Eri), Trắng (Shirane Yuzuki). Nhưng vấn đề cốt yếu của nhân vật không phải ở chỗ đó. Mà là ở chỗ, suốt từ thuở thiếu niên cho đến lúc bước vào tuổi trung niên, khi đã có một công việc, một vị trí khá ổn định trong xã hội, Tazaki vẫn luôn phải day dứt với một mặc cảm không sao tẩy xóa, có thể nói là một nỗi đau khổ cũng được, như sau này anh sẽ thổ lộ với người bạn gái Kurono Eri (tức Đen): “Trong mình không có cái tôi. Không có một cá tính cụ thể, cũng chẳng có một chút màu sắc sinh động nào. Mình không có bất cứ thứ gì để chìa ra cho người khác. Đó là vấn đề mà mình phải đối mặt suốt từ ngày xưa. Mình luôn cảm thấy mình là một cái bình rỗng. Tuy có thể có hình thù nhất định theo nghĩa là một vật đựng, song hoàn toàn không có cái gì đáng gọi là nội dung ở trong đó” (tr 312). Luôn là như vậy, ở các tiểu thuyết của Murakami, dù loại này hay loại kia, nỗi băn khoăn về bản ngã cá nhân - chứ không phải cuộc chiến đấu vì chính nghĩa hay sự cứu rỗi thế giới, như ở nhiều tiểu thuyết gia khác - mới là chủ đề được đẩy lên hàng đầu (xin được mở ngoặc đơn để nói thêm, nhiều motif quen thuộc của Murakami cũng được lặp lại ở cuốn tiểu thuyết này: kiểu nhân vật chính rất dễ lẫn vào đám đông tạo thành mẫu số chung tầm thường, mối quan hệ tình dục đơn giản nhẹ nhàng của nhân vật chính với những người tình hơn tuổi, những giấc mơ mà trong đó mọi vai trò ngoài đời của các nhân vật đều bị lộn ngược hoặc bị tráo đổi v.v…) Trong Tazaki Tsukuru không màu và những năm tháng hành hương, chủ đề ấy sẽ còn được tô đậm hơn ở những trang cuối, khi tác giả để cho Tazaki lặng ngồi quan sát quang cảnh một ga tàu điện ngầm Nhật Bản: vô cùng hiện đại, vô cùng chính xác; một thế giới con người vô cùng đông đúc, vô cùng tất bật, và đặc biệt: vô cùng giống nhau, tựa như tất cả là những bản sao của cùng một bản chính, duy nhất. Nếu ai đó muốn có một hình ảnh nhất định về xã hội Nhật Bản hiện đại, chủ nghĩa hiện thực “kiểu Murakami” trong cuốn sách này sẽ cung cấp cho họ phần nào bằng những dòng ông miêu tả bức ảnh về nhà ga Shinjuku được đăng trên một tờ báo uy tín của Mỹ: “Không ai bảo ai, những hành khách đi làm trong bức ảnh thảy đều nhìn xuống đất và mang một bộ mặt u ám, không sinh khí như lũ cá đóng hộp” (tr 336). Là người Nhật Bản, tác giả biết rõ tại sao mọi người đều cúi gằm khi bước xuống cầu thang ga tàu: họ phải chú ý để không bước trượt hoặc bị đám đông giẫm tuột giày. Một câu bình luận nửa trực tiếp - của nhân vật, mà cũng là của tác giả/người kể chuyện - được bung ra: “Về mặt logic, hoàn toàn có thể gọi một xã hội mà ở đó người ta không thể đi làm nếu không lo mất giày mỗi sáng là một xã hội bất hạnh” (tr 336). Điều liên quan đến chủ đề của tác phẩm ở đây cũng sẽ tự nhiên bung ra như một câu hỏi: mỗi cá nhân trong thế giới ấy sẽ bị nó nuốt chửng, rồi hòa tan, hay sẽ tự khẳng định mình như một cá thể đơn trị, có bản sắc riêng? Nỗi đau khổ của Tsukuru, do vậy, đã vượt quá nỗi đau khổ của một cá nhân đặc thù. Và có lẽ chăng, nó còn mang kích cỡ một nan đề của thời đại?

Công cuộc đi tìm cá tính/0màu sắc của Tazaki Tsukuru “không màu” - theo một cách mà chỉ có những nhà văn vào loại quái kiệt như Murakami mới có thể nghĩ ra - trùng khít với việc anh gặp lại những người bạn sau gần hai mươi năm tuyệt giao. Ngày ấy anh bị Xanh, Đỏ, Đen, Trắng tẩy chay thẳng thừng vì một vụ việc khủng khiếp mà anh vốn không phải thủ phạm, và ai cũng biết thế, nhưng rốt cuộc thì Tazaki cứ phải nhẫn nhục chịu đựng số phận cay đắng của mình. Gần hai mươi năm, vụ việc xưa vẫn không hề được làm sáng tỏ một chút nào. Ngay cả cái chết thương tâm của nhân vật Trắng vài năm sau khi Tkusuru bị nhóm bạn tẩy chay cũng vậy. Nhà văn cứ treo chúng ở đấy, lơ lửng trên đầu các nhân vật, không phải như một câu hỏi, mà như một khẳng định: cuộc đời vốn đầy rẫy những chuyện không cách nào hiểu nổi, mà để có thể sống được bình thản, người ta nên biết cách chấp nhận chúng như một tất yếu. “Lòng người và lòng người không bao giờ gắn kết với nhau chỉ bởi sự hài hòa. Mà trái lại, gắn kết với nhau bởi tổn thương và tổn thương. Nối liền với nhau bởi niềm đau và niềm đau, bởi mong manh và mong manh. Không có sự tĩnh lặng nào mà không chứa đựng những tiếng kêu bi thống, không có sự dung thứ nào mà không đổ máu trên mặt đất, không có sự chấp nhận nào mà không phải vượt qua những mất mát đau thương. Đó là thứ nằm trong căn đế của sự hài hòa đích thực” (tr 298, 299).

Đoạn văn thắt lại như một niềm u sầu đẹp đẽ ấy chính là ý nghĩ chợt đến trong đầu Tazaki Tsukuru khi anh cùng Đen, sau gần hai mươi năm, nghe lại bản Le Mal du Pays của nhạc sỹ Franz Liszt. Bản nhạc ấy được nhắc đi nhắc lại trong cuốn tiểu thuyết, ở nhiều điểm khác nhau của thời gian truyện kể. Nó từng được người bạn gái Shirane Yuzuki (Trắng) xấu số của Tsukuru chơi nhiều lần, trong những khung cảnh thơ mộng. Tsukuru và chàng sinh viên tên Haida - được anh đặt biệt danh là Xám, như một ẩn dụ về sự trộn lẫn giữa Trắng, người anh thầm yêu, với Đen, người thầm yêu anh - từng nhiều lần nghe bản nhạc này, để: “Thấy một cảm giác khó thở buồn thắt ở sâu trong lồng ngực. Tựa như vừa hít phải một tảng mây nhỏ cứng ngắc” (tr 66). Những đơn âm mở đầu đoản khúc ấy, những đơn âm chứa đựng một niềm hoài hương khắc khoải cũng chính là nhịp điệu của tác phẩm văn xuôi này (một lần nữa xin được mở ngoặc đơn để nói thêm: âm nhạc luôn có mặt và giữ những vai trò nhất định trong các tiểu thuyết của Murakami. Đó là ca khúc Rừng Nauy của nhóm The Beatles trong tiểu thuyết cùng tên. Đó là phần overture bản Chim ác là ăn cắp của Rossini trong tiểu thuyết Biên niên ký chim vặn dây cót, và nhiều nhiều nữa… Dường như với những nhà văn Nhật Bản chịu nhiều ảnh hưởng văn hóa phương Tây như Murakami hay Kazuo Ishiguro - tác giả của tập truyện Dạ khúc, năm câu chuyện về âm nhạc và đêm buông, văn chương và âm nhạc là những yếu tố không thể tách rời). Thấm đẫm chất duy cảm chủ nghĩa, song kỳ lạ thay, bằng nhịp điệu u sầu mượn từ bản nhạc của Franz Liszt, cuốn tiểu thuyết của Murakami đã làm hiển lộ một trong những khía cạnh bản chất nhất của cuộc đời con người, một cuộc hành hương từ Không đến Có, rồi lại trở về Không. Im lặng. Tan biến. Hư vô…

Tuy nhiên, với phần lớn độc giả yêu thích “happy end” kết cục có hậu, cuốn sách mới nhất của Murakami có lẽ vẫn cho người ta một hy vọng để hướng tới, một niềm tin để yên tâm mà tiếp tục sống trong cõi tạm này, như câu trả lời của Đen với Tsukuru: “Cứ giả sử rằng cậu là một cái bình rỗng, thì cũng được chứ sao… Nếu vậy, cậu hãy là một vật đựng thật đẹp mắt. Một cái bình dễ mến đến mức mà ai đó chỉ chực đút cái gì đó vào bên trong” (tr 313). Vì thế, bài review điểm sách trên tờ “San Francisco Chronicle” tỏ ra có lý khi hạ một bình luận: “Câu chuyện của Tsukuru sẽ còn âm vọng cùng bất kỳ ai cảm thấy mình đang trôi dạt giữa kỷ nguyên Google và Facebook này”.

Hoài Nam
Xem tin theo ngày:
ÂM NHẠC
14:59 11/02/2015
Cuối năm 2014 đầu năm 2015, chương trình Lửa của nghệ sĩ piano Phó An My, nhạc sĩ Đặng Tuệ Nguyên cùng các diễn viên Nhà hát Tuồng Việt Nam đã mang đến cuộc đối thoại thú vị giữa piano - khí cụ của châu Âu và tuồng - nghệ thuật sân khấu dân gian Việt Nam, dựa trên sự tôn trọng đặc thù của từng loại hình.
Quay trở lại đầu trang