VĂN HÓA - GIÁO DỤC
Cập nhật 07:02 | 29/05/2020 (GMT+7)
.

Phát huy tính tự trị của làng Việt

08:15 | 15/05/2020
Mấy chục năm qua, làng Việt phải đối mặt với những cuộc đảo lộn ghê gớm. Người ta đã nói nhiều về việc bảo tồn làng sao cho giữ được nét truyền thống trong bối cảnh xã hội vận động, tiếp biến không ngừng, song lại chưa nhìn nhận làng như một chủ thể với những đặc tính nổi bật lâu đời.

Sau lũy tre làng

Gần 30 năm trước, trong một nghiên cứu về làng Việt nhìn từ góc độ mỹ thuật (Mỹ thuật ở làng - NXB Mỹ thuật Hà Nội, 1991), nhà nghiên cứu phê bình mỹ thuật Nguyễn Quân và Phan Cẩm Thượng đã có tổng kết, đánh giá về hai khái niệm bền chặt gắn với làng. Đó là không gian vật chất và không gian tinh thần. Tính chất độc lập tương đối của hai không gian này đã quyết định và được thể hiện ở cảnh quan làng. Nó không phải là kết quả của một quy hoạch chặt chẽ, khoa học, mà hình thành phù hợp theo “luật trời” - tức hợp với tự nhiên, khí hậu, đất đai, yêu cầu kinh tế, sinh hoạt cụ thể. Nó cũng không hoàn toàn tự phát mà tuân thủ các chuẩn tắc phong thủy, tôn giáo, tín ngưỡng, quan hệ gia tộc và quan niệm dung hòa giữa người và đất trời.

Từ xa, người ta nhìn thấy làng là một vùng cây xanh với lũy tre bao bọc (tre là một vật liệu xây dựng quan trọng nhất của nông thôn Bắc Bộ), không có điểm nhấn nào theo chiều cao, không gian bằng lặng, êm ả, trừ những bóng cổ thụ: Cây gạo ven đường, ven đê, cây đa, cây si, đánh dấu từ xa những điểm tụ của làng là đình, chùa, miếu, đền, bến sông… Cổng làng thường nhỏ xinh, giống như cột mốc vào làng hơn là cổng thành để tự vệ. Cổng thông thoáng dẫn qua đoạn chính của đường làng tới đình. Ở đình có sân đình là quảng trường lớn nhất của làng, có giếng đình nơi dân ra lấy nước ăn, có ao đình cũng là mặt nước lớn nhất của làng. Ở chùa có vườn chùa là nơi tập trung của nghệ thuật vườn với nhiều loài cổ thụ và cây cảnh quý hiếm. Các nhánh rẽ dẫn vào các xóm, mỗi xóm gồm một số khuôn viên. Nhà dân bao giờ cũng gồm một vườn, giàu thì có cả ao và khu nhà ở, vườn bao quanh, cho nên không nhà nào liền tường với nhà nào. Ven đường làng còn có ao, chuôm, đầm… là những mặt nước xinh xắn với cây cối ven bờ. Làng nọ nối làng kia bằng những con đường qua cánh đồng, ven đê hay khúc sông. Cứ thế, mạng lưới làng lan ra khắp.

Theo KTS Trần Đại Nghĩa, làng là “ốc đảo bền vững về văn hóa và cộng đồng nhỏ”. Cho nên, nói về làng không chỉ nói về di sản quá khứ, mà phải nhìn ở giá trị quy hoạch không gian, cảnh quan và sinh hoạt cộng đồng. Đây cũng là điều PGS.TS. Phạm Hùng Cường, Trường Đại học Xây dựng rút ra từ nhiều năm nghiên cứu về làng ở đồng bằng Bắc Bộ. Dẫn chứng về cấu trúc làng Hành Thiện (Nam Định) hình thành từ vài trăm năm trước một cách rất bài bản về tổ chức không gian, hình thái được vạch ra của làng là hình con cá, có phần bụng cá, phần vây cá, các con đường song song với nhau như xương cá, ở đầu cá có giếng làng đặt trúng mắt cá, có chợ ở gần khu giếng làng… Nó bền vững và hợp lý đến nỗi quy hoạch hiện đại không phải can thiệp gì.


Làng Thủ Sỹ, ở Tiên Lữ, Hưng Yên với nghề đan rọ, đó từ lâu đời  
Ảnh: Shutterstock/Tzido Sun

Gắn với gốc rễ cộng đồng

Nhiều nghiên cứu chỉ ra, hệ sinh thái tự nhiên, khép kín làm nên giá trị cốt lõi khi nói về di sản làng, ấy là tính tự trị. Nhưng “tự trị” ở đây không chỉ ở khía cạnh chính trị, văn hóa kiểu “phép vua thua lệ làng”, mà còn là một góc nhìn, theo PGS. TS. Phạm Hùng Cường: “Nếu bỏ qua thì nghiên cứu đối với làng sẽ khác, nếu không nói là thiếu sót”. Đó là tính “tự trị âm ỉ” trong một không gian quần thể cư dân nông nghiệp và thủ công, một quần thể mang tính chất dòng họ. Mới có tục xưa các chú rể phải nộp một số gạch để lát đường làng, làng giàu thì đường gạch nhiều, rộng, làng nghèo thì đường đất “sống trâu” gồ ghề. Ngày xưa theo khoa cử thì “bên anh đọc sách bên nàng quay tơ”, theo nông tang là nương dâu, bãi mía, nương chè, đồng chiêm, đồng mùa, theo công thương thì kết thành hiệp thợ, phường thợ… Song dù “buôn đâu, bán đâu”, đi làm tận tỉnh xa, miền xa, người làng vẫn cố về làng vào những ngày giỗ, Tết. Đến giờ, những làng còn duy trì nhiều nếp xưa cũng là làng còn lại nhiều di sản.

“Nhưng chuyện ở làng giờ đã khác” - KTS Hoàng Đạo Kính lý giải là bởi làng không thể nằm ngoài cuộc biến thiên của thời đại. Tính khép kín không còn, tác động đến đặc điểm, giá trị, phẩm chất, bản sắc của làng. “Tôi từng khảo sát, có những gia đình không còn thích ở nhà gỗ, vì tiện nghi không khép kín, hỏng không có gỗ để thay. Có nhà không giữ được vườn, vì chỗ ở chật chội, phải xây rộng ra… Để thấy rằng, bảo tồn làng không phải hoài niệm, thương nhớ, mà đặt nó trong sự vận động, phát triển, nói cách khác thì đời sẽ quyết định cái gì là cái kế thừa”. Chữ “đời” theo KTS Hoàng Đạo Kính, chính là đời sống cư dân, là gốc rễ cộng đồng.

Thực tế chỉ ra, di sản chỉ có thể bảo tồn được khi có sự tham gia và giúp đỡ của cộng đồng, nhiều di sản nếu không được sự đồng ý của nhân dân đã không thể làm được. Ở đây, tính chất tự quản, tự trị ở các làng là nền tảng để tạo ra đường hướng nghiên cứu, bảo tồn di sản làng trong bối cảnh đương đại. Từ kinh nghiệm thiết kế kiến trúc xanh, kiến trúc hiện đại lấy cảm hứng từ làng, KTS Trần Đại Nghĩa cho rằng, cộng đồng làng là một tham chiếu quan trọng đánh giá sự bền vững của làng. “Khi đất nước mở cửa, nhiều cái mới ùa vào, đương nhiên xu thế chung là người ta tìm những gì chưa thấy bao giờ. Nhưng không ai khác mà chính họ phải đặt câu hỏi thực sự những cái đấy mình có cần không, dựa trên việc được hiểu biết đầy đủ về di sản làng. Bởi vì dù sao chăng nữa, di sản làng muốn tồn tại phải gắn với gốc rễ cộng đồng”.

Thái Minh
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang