VĂN HÓA - GIÁO DỤC
Cập nhật 11:22 | 10/04/2020 (GMT+7)
.
Bảo tồn nghề tranh dân gian Đông Hồ

Đường dài nhọc nhằn

08:19 | 21/03/2020
Cách đây ít ngày, Ủy ban Nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã hoàn thiện Hồ sơ khoa học “Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ” đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trình Thủ tướng Chính phủ xem xét gửi UNESCO đưa vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Đây là giải pháp “cứu nguy” cần thiết để bảo tồn nghề tranh, tuy vẫn còn rất nhiều khó khăn phía trước.

Cứu vãn nguy cơ mai một

Dòng tranh dân gian Đông Hồ từ lâu đã đi vào tiềm thức của nhiều thế hệ người Việt với hình ảnh đám cưới chuột, gà đàn, vinh hoa - phú quý... kết tụ tinh hoa về nghệ thuật tạo hình, làm giấy, pha màu… Bảy năm trước (2013), nghệ thuật làm tranh này đã được đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Thế nhưng, cùng với sự biến đổi của bối cảnh sống, nhu cầu, thị hiếu của người dùng, nghề làm tranh dần mai một.

Trước đây, nghề làm tranh là hoạt động kinh tế chính của người làng Ðông Hồ, xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, với 17 dòng họ, hàng trăm hộ gia đình làm tranh. Đến nay, dù vẫn mang danh làng nghề, nhưng chỉ còn ba gia đình trong hai dòng họ. Đó là gia đình nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế, nghệ nhân Nguyễn Hữu Quả và nghệ nhân Nguyễn Thị Oanh, với khoảng 30 người tham gia làm tranh. Còn lại, cơ bản người dân làng Đông Hồ chuyển sang trồng trọt, kinh doanh và làm hàng mã. Lâu nay, công cuộc giữ gìn nghề truyền thống này vấp phải thách thức không nhỏ.


Nghệ nhân Nguyễn Hữu Quả hướng dẫn du khách làm tranh dân gian Đông Hồ trong triển lãm tại Hà Nội
Ảnh: Thái Minh

Cũng khó mà trách người làng Đông Hồ không nương níu truyền thống làm tranh dân gian bao đời của mình. Theo nhà nghiên cứu, phê bình mỹ thuật Phan Cẩm Thượng, khi những giá trị văn hóa dân tộc chưa thể gắn bó với cộng đồng theo đúng nghĩa cơm áo, gạo tiền, thì sự mai một, rời bỏ theo nhu cầu thị trường là rất khó tránh khỏi. Nhìn lại năm 2012, Ủy ban Nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã phê duyệt Ðề án “Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa tranh dân gian Ðông Hồ, huyện Thuận Thành, giai đoạn 2014 - 2020 và định hướng đến 2030” với tổng kinh phí gần 60 tỷ đồng, nhưng đến giờ hoạt động của làng nghề vẫn chưa có tín hiệu khả quan. Cũng chẳng ai lạ khi giữa cái trù phú của làng Đông Hồ hôm nay, sắc tranh dân gian cứ lặng lẽ ẩn mình trong những ngôi nhà ngập vàng mã, hay những cái lắc đầu khi được hỏi có quay lại làm nghề không của những con người từng đi qua năm tháng tấp nập làm tranh. Mối lo truyền thừa giá trị cứ thế đeo đẳng trong những người yêu di sản.

Việc hoàn thiện Hồ sơ khoa học “Nghề làm tranh dân gian Ðông Hồ” trình UNESCO đề nghị đưa vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp dấy lên hy vọng. Nếu thành công, đây sẽ là nghề thủ công truyền thống đầu tiên của nước ta được UNESCO ghi danh. Cùng với sự ghi danh sẽ có những quy định cụ thể trong bảo tồn, phát huy giá trị di sản, góp phần “cứu” dòng tranh thoát khỏi tình trạng khó khăn. Cùng với đó là đánh động nhận thức của cộng đồng, để người làm nghề yên tâm giữ nghề, người nhớ nghề quay lại với nghề, làng tranh sôi động như xưa.

Hành trình không đơn độc

Có thể thấy, sự thu hẹp số lượng nhà làm tranh và nghệ nhân làm tranh cho thấy nhu cầu về dòng tranh dân gian Đông Hồ giảm sút đến mức nào. Điều đó cũng đồng nghĩa, những gia đình nghệ nhân một khi quyết định gắn bó sẽ phải chấp nhận khó khăn, thậm chí đánh đổi giá trị kinh tế. Để phù hợp hơn với thị trường, các nghệ nhân cũng mày mò cách thay đổi, như tranh Đông Hồ được đóng trong khung, dán trên mành tre, hay thể hiện ngay trên các vật dụng hằng ngày… Tuy vậy, việc gìn giữ chất thuần Việt của tranh luôn khiến nghệ nhân như ông Nguyễn Hữu Quả trăn trở: “Vấn đề không chỉ giữ nghề mà còn phải giữ cả giá trị văn hóa truyền thống. Nhưng khó khăn chính là đầu ra của sản phẩm, là sức tiêu thụ của thị trường”.

“Một tay xây dựng cơ ngơi” là cách nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế nói về hàng chục năm níu tìm và phục dựng xưởng tranh, lặn lội tìm đầu ra cho tranh. “Cơ ngơi” ấy nằm ngay đầu làng, bên chân đê sông Đuống, nơi có phòng trưng bày hàng trăm bức tranh “thắm màu dân tộc”, những chồng ván gỗ được lưu lại từ đời trước và được sáng tạo, làm mới cho phù hợp với hiện đại. Đến gia đình ông bây giờ không chỉ để mua tranh mà còn được nghe giới thiệu về giá trị của dòng tranh, ý nghĩa của các bức tranh và tham gia trải nghiệm một ngày của người làm tranh. Tại địa chỉ này nhiều năm qua, tranh Đông Hồ đến với hàng triệu du khách trong nước và quốc tế, đến với các thế hệ học sinh tìm về văn hóa truyền thống qua tranh dân gian. Ông Chế cũng như những nghệ nhân hiếm hoi còn lại của làng tranh Đông Hồ hiểu rằng: “Muốn bảo tồn tranh, trước hết phải sống được với tranh, bán được tranh”.

Hiện đầu ra cho tranh dân gian Đông Hồ vẫn là khó khăn lớn nhất để bảo tồn và phát triển dòng tranh này, khi chính sách hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm vẫn chưa được hiện thực hóa. PGS. TS Bùi Hoài Sơn, Viện trưởng Viện Văn hóa nghệ thuật Quốc gia (đơn vị phối hợp làm Hồ sơ) cho rằng, nếu có thị trường cả ở trong nước lẫn ngoài nước thì sẽ giúp bảo vệ, phát huy giá trị của tranh dân gian Đông Hồ một cách bền vững. Muốn vậy, phải giới thiệu ra thị trường những đặc sắc của tranh dân gian Đông Hồ, nâng cao nhận thức của mọi người về tính độc đáo của dòng tranh này... “Bởi vậy, một trong những yếu tố quan trọng mà chúng tôi nêu ra trong hồ sơ là tạo ra thế hệ nghệ nhân mới, thế hệ công chúng mới, đồng thời tìm kiếm, tạo dựng thị trường cho tranh dân gian Đông Hồ. Đó sẽ là một hành trình dài, nhọc nhằn, khó khăn, nhưng nghệ nhân sẽ không hề đơn độc”. 

Thái Minh
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang