VĂN HÓA - GIÁO DỤC
Cập nhật 16:02 | 26/01/2020 (GMT+7)
.

Lạnh vào khói ấm

08:34 | 08/12/2019
Nhớ một chiều đông ấm đi học về, nghe mùi cơm mới dậy lên từ căn bếp cũ. Nhớ đôi bàn tay mẹ một đời làm lụng vất vả, đen đúa, gân guốc, sao mà thương đến thế. Nhưng cũng từ đôi bàn tay ấy, đã cho cha con tôi ngàn vạn bữa cháo cơm ấm áp, thảo thơm, đến suốt một đời không thể nào quên...

Bùi ngùi cơm độn

Trong kỳ đi du lịch Đài Loan, tại một điểm dừng nghỉ dọc đường từ Đài Bắc tới Đài Trung, chúng tôi đã được thưởng thức một bữa cơm đặc biệt. Bên cạnh các món thức ăn phong phú, nhà hàng đã chiêu đãi món cơm độn mấy loại khoai. Cậu hướng dẫn viên người Hoa lơ lớ tiếng Việt hoan hỉ giới thiệu:

- Đặc sản của địa phương đây, cứ đãi khách quý, bà con mới nấu cơm khoai.

- Ô, thế thì các cô chú có một thời ngày nào cũng tự là khách quý, tự đãi cơm khoai liên tục đấy!

Đám bạn du lịch chúng tôi vừa ăn cơm vừa rộn ràng cười nói, thi nhau kể chuyện các món cơm độn, thức ăn độn ở Hà Nội mấy chục năm thời bao cấp.

Từ nhỏ, cho đến tận lúc đi lấy chồng, tôi nhớ, không có mấy bữa cơm, trừ ngày giỗ Tết, nhà tôi không phải ăn cơm độn. Lúc thì cơm độn mỳ. Bột mỳ được Trung Quốc, Liên Xô viện trợ. Thời kỳ đầu chưa biết làm mỳ sợi, mẹ tôi cũng như các bà nội trợ làm mì vẩy nước. Các bà cho một đám bột mì lên chiếc mâm nhôm hay mâm gỗ. Rồi một tay cầm bát nước, một tay vẩy nước, cho từng đám một dính vào nhau như những hạt gạo méo mó. Khi thổi cơm, đợi cơm cạn săm sắp nước, các bà vẩy đám bột mì hạt ấy vào và ghế nhẹ nồi cơm, đậy vung lại chờ chín. 

 Bà nội trợ nào khéo, thì cơm độn mỳ vẩy nước, ăn cũng lạ miệng được đôi ba bữa. Sau thì ngán lắm. Nhất là đám trẻ con, vừa ăn vừa duỗi cổ nuốt, như ngan vịt bị các bà bán hàng nhồi thêm bánh đúc vào diều cho nặng cân mà lừa khách. Chưa kể, nhà nào có bà nội trợ vụng về, hoặc đám con gái mới lớn chưa biết nấu nướng, bột mỳ vẩy nước quá tay, nhão nhoẹt, thì nồi cơm nát quá như cháo. Vẫn phải cố mà nuốt, không thì ăn cái gì.

Sau này, các bà nội trợ truyền tai nhau cách nhào bột mỳ, cán mỏng rồi thái nhỏ. Nhỏ cũng thể bằng chiếc đũa con ăn rượu nếp. Phơi nắng khô, đem ghế cơm. Tình hình được nâng cấp rõ rệt. 

Thế rồi mậu dịch cũng bán mì sợi thành phẩm. Thế giới thần tiên của chúng tôi bắt đầu rộng mở. Mì ghế cơm thì đã trở nên rất thường, không kể. Mỳ nấu cà chua, mỳ nấu riêu cua, mỳ xào rau cải. Nếu có quả trứng con gà nuôi sau bếp thi thoảng nhả ra, thì còn tuyệt nữa. Nhưng có đợt bột mỳ ngon thì mì sợi ngon. Có đợt bột mỳ kém thì sợi mỳ thấp thoáng bóng dáng đôi ba con mọt.  Ăn hôi sì mà vẫn phải cố. 

 Hồi tôi mới nhập trường đại học, một tối nhập nhoạng, đến lượt vác rá đi lấy cơm cho cả phòng. Nhận rổ bánh mì nắp hầm, tôi vui vẻ đu đưa khắp lối về, thầm sung sướng lòng nhủ lòng hôm nay bánh nắp hầm tự nhiên có vừng trộn. Về phòng, châm đèn dầu lên, mới tá hỏa nhận ra đám vừng đen ấy chính là những con mọt chưa kịp thoát xác. Sinh viên thì biết làm sao, đành vừa cắn bánh vừa lấy lưỡi lừa mọt,  như mẹ ta lừa xương cá, bón cơm cho con nhỏ ngày xưa.

Bo bo hay ngô răng ngựa, thì phải ngâm nước nửa buổi, rồi đun sình sịch hàng giờ đồng hồ, cho chúng nở ra, mềm bớt. Đôi khi nông dân các vùng trồng màu làm nghĩa vụ với Nhà nước bằng sắn, bằng khoai. Sắn thì không mấy khi, và đa phần đã bị gãy khúc, chạy nhựa, do vận chuyển lòng vòng, do khuân vác quăng quật từ xe nọ sang kho kia. Mỗi khi cửa hàng lương thực đổ sắn về, các nhà thái sắn phơi đầy hè phố. Cơm sắn khô không ăn nổi, thì chủ nhật cho sang làm bánh sắn. Bôi tí hành mỡ vào, cũng nuốt được một đôi lần là ứ ự ừ ư. 

 Khoai lang thi thoảng mới có. Mọi người loan tin ầm phố. Khoai lang được yêu chiều hơn sắn, do để được lâu hơn. Lăn lóc đầy gầm phản. Khoai luộc, khoai nướng đều quá ngon. Nhưng có khi gặp mớ khoai hà, thì đem băm cho “thủ trưởng” lợn, nó cũng nguẩy mũi đi chỗ khác, chả thèm ăn. Khoai tây đến mùa bà con thu hoạch thì có liên tục hơn. Nổi trội nhất là giống khoai tây bi, củ nhỏ và tròn cỡ như quả sấu. Đem luộc nấu nướng hầm đủ thứ. Tết thì thêm món mứt khoai tây. Ngày thường thì khoai tây, khoai lang gì, cũng lại phải đem độn cơm cho đỡ gạo. Đúng chức năng lương thực nhà nước quy định. Thế là chả ngang bằng đặc sản Đài Loan là gì? 

Sau, mậu dịch cũng có ngô xay, ngô xay vỡ thành hạt to gấp vài ba lần hạt tấm gạo. Thổi nồi cơm độn ngô nom rõ đẹp. Trắng vàng đan xen rực rỡ. Mùi ngô thơm át mùi gạo mốc, hấp dẫn đáo để. Nhưng ngô vẫn phải ngâm và ninh trước khi thổi cùng gạo tẻ. Và ăn như thế cũng chỉ được vài ba bữa, là đám trẻ lại ậm ọe không chịu nuốt.

Dì tôi học đâu được cách làm món bánh đúc ngô cải thiện cho trẻ con ngày Chủ nhật

Nhưng bánh đúc ngô trông thì đẹp mà ăn thì bứ lắm. Mùi nó rất nồng. Các bà lại truyền tai nhau cách làm bánh cuốn ngô. Bánh cuốn ngô màu rõ đẹp, thêm tí hành hoa mộc nhĩ điểm xuyết, nước mắm dấm ớt hạt tiêu, thì quyến rũ vô cùng. Nhưng ăn thì thua xa bánh cuốn gạo một trời một vực. 

Thế là chủ nhật sau, dì tôi giấu mẹ tôi xay lẫn bơ gạo vào bột ngô nhằm cải thiện tình trạng. Nhưng mẹ tôi kiểm soát thùng gạo rất kỹ, đi ra đi vào, lại kỳ kèo dì tôi là quá nuông chiều đám nhỏ.  Vậy là từ đó chúng tôi mất ăn món đặc sản bánh cuốn ngô pha gạo tuyệt phẩm của dì. Tính ra cũng đã khoảng hơn nửa thế kỷ rồi. Nhớ mẹ, thương dì quá đỗi. 

Không phải là thời giàu sang long tu, vây cá, yến sào, mà chính là trong cái thời bao cấp khốn khó ấy, các bà nội trợ Hà Nội mới càng chứng tỏ tay nghề nấu nướng vào hàng siêu đẳng.

Đấy là nói chuyện cơm độn. Còn thức ăn, cũng độn nốt. Độn trường kỳ kháng chiến hơn cơm độn nhiều. Thoát khỏi thời kỳ bao cấp, mà mãi sau mới hết thức ăn độn..  

Hồi ấy, tôi còn nhớ, chả bao giờ nhà có nồi thịt kho tàu mà chỉ có thịt kho lẫn trứng như bây giờ. Chỉ có, hoặc là thịt kho lẫn củ cải, hay su hào. Sang hơn là thịt kho đậu phụ. Thứ đậu phụ mua phiếu vừa bở, vừa rắn, vừa chua.  Cá cũng kho củ cải, su hào, kho dưa chua, sang hơn là kho măng tươi, kho trám. Cá đồng tiền hay cá nục mua phiếu ươn nát lòi cả ruột lẫn xương, thì được ưu tiên không kho độn. Nhưng ăn vẫn chối chết.

 Đám trẻ con nhà đông hay hỗn ăn. Nếu bà và mẹ không chia thịt chia cá, thì chúng tôi chả bao giờ gắp tới su hào, củ cải. Khi đó, mẹ tôi thường cười cười:

- Ăn cái miếng su hào, củ cải kho, nó ngọt như đòng đòng chứ lỵ! Nó ngấm hết chất bổ thịt cá vào. Thịt cá chẳng qua là cái bã thôi.

Thi thoảng cuối tuần cải thiện, dì tôi đánh độ ba bốn quả trứng, kèm thêm là một bát bột mì, thêm nước mắm, hạt tiêu, hành hoa và tí bột nghệ, cộng với muôi nước lã, đánh lên cho đều. Bôi tý mỡ vào chảo, phi tí hành khô, dội bát bột trứng hỗn hợp ấy vào, rán lên. Thơm cứ gọi là phưng phức. Hôm nào mua thịt phiếu, mua loại bạc nhạc để được một thành hai, mà băm nhỏ, trộn cho thêm vào thứ dung dịch tổng hợp trứng tráng - bột mỳ. Thì hôm ấy nhà coi như đại tiệc. Mẹ  tôi lại thở dài, vừa đong thêm bơ gạo cho nồi cơm đầy hơn, vừa ngó nghiêng xem mặt gạo còn cách đáy bao xa. Liệu nhà có trụ nổi đến kỳ đong gạo mới hay không?

 Mà gạo thì nhiều khi cũng là gạo “bẩy nổi ba chìm”. Đừng tưởng là gạo bánh trôi bánh chay “bẩy nổi ba chìm” như trong thơ Hồ Xuân Hương nhé. Mà là gạo hẩm, gạo cũ, gạo mọt. Gạo ấy cứ thả vào rá, đem đãi bờ ao nơi sơ tán, chúng nổi phềnh phềnh trắng xóa, đan xen cùng với đám mọt đen không khác gì đám chấy rận. Cá con lao vào đớp rối rít. Hạt nổi rỗng tuếch ruột rồi thì phải bỏ. Hạt chìm thì gạn lấy đem nấu cơm.

 Không phải là thời giàu sang long tu, vây cá, yến sào, mà chính là trong cái thời bao cấp khốn khó ấy, các bà nội trợ Hà Nội mới càng chứng tỏ tay nghề nấu nướng vào hàng siêu đẳng...

Mỗi khi các bà mẹ ở lại thành phố mà thu xếp được thời gian giữa hai ca máy, hay giờ trực chiến, thường chịu khó dần sàng, phơi phóng lại đám gạo cho kỹ, mới đem gửi cho các con nhỏ nơi sơ tán. Nhưng cái mùi gạo mốc thì khó mà loại bỏ. Các bà mẹ thường dạy các con cho nắm muối vào gạo, xóc kỹ với ít nước, rồi hãy đem vo đãi, nấu cơm. 

Nhưng mà món thức ăn kỳ dị nhất thời bao cấp mà tôi vẫn còn nhớ mãi. Ấy là món đầu cá khô nấu bí đỏ mà bà ngoại sáng kiến nấu cho chúng tôi hồi đi sơ tán. Hồi đó, máy bay Mỹ đánh dữ quá, bố tôi không về nổi để  tiếp tế mắm tôm chưng hay đậu phụ kho cho kịp. Chao ôi, bí đỏ nấu đầu cá khô, thêm tí mỡ cừu viên trợ hôi hám, nêm nước mắm loại 3 thum thủm, nó gây sặc, tanh khẳn, ngọt lợ. Tôi bỏ mâm, chạy ra vườn nôn thốc nôn tháo. Bụng đói cắp cặp đi học. Thi thoảng nghe tiếng máy bay ầm ào vụt qua, lại nhảy đại xuống giao thông hào, bùn bắn tung tóe. Trông đám bùn chả khác gì món bí ngô nấu đầu cá. Ọe thêm lần nữa. 

 Thời sinh viên, có hôm được lĩnh tiền phụ cấp, phấn khởi tụ nhau làm bữa cơm độn sắn với rổ rau xà lách to tướng chấm cà chua chưng muối. Thế là nhất. 

Nhưng lâu lâu về sau này, người người gặp nhau vẫn nhớ, kể đi kể lại những món ăn đồ uống thời bao cấp. Và lại coi những món thức ăn độn ấy là đặc sản. Chả thế ở Hà Nội, từ một nhà hàng, giờ có đến dăm bẩy nhà hàng mở ra chuyên kinh doanh món ăn thời bao cấp. Đông khách khiếp được! Nhưng tôi đố các vị tìm nổi nước mắm loại 3 thối um với cơm gạo “bẩy nổi ba chìm”, bánh nắp hầm nhân vừng đen thuở ấy. 

Bây giờ nhiều hiệu  đặc sản cũng có các món cơm độn nhưng khá sang trọng: cơm sen, cơm đỗ... Giá một đĩa cơm bạc trăm ngàn là chuyện thường. Hôm nọ, được cho một túi mì sợi, nói là mỳ làm kiểu thời bao cấp. Tôi sung sướng thổi nồi cơm độn, hớn hở đưa ngay ảnh ngay lên FB. Lớp trẻ nhao nhao hỏi món gì lạ thế. Còn cánh bạn già, thì rõ là soi: 

- Mỳ đã trắng, lại không có mọt. Gạo hạt trong, lại đều tăm tắp. “Diễn” vừa vừa chứ!

Đượm thơm mùi mắm tép

Đầu tháng Mười âm lịch. Một đêm trở dậy. Chợt nghe những cơn gió xao xác chạy dài trên mái phố. Là gió hanh hay gió bấc? Đôi khi cũng chả phân biệt nổi. Chỉ biết thế là đang cữ Tết cơm mới rồi đây. 

Ngày cuối tuần thư thả, tôi tính làm cơm mời các anh em cháu con bên đằng ngoại. Ăn uống bây giờ đâu phải chuyện quan trọng. Gặp gỡ, tụ hội, cười nói, mới là thiết yếu.  Cô em gái sát tôi, lấy chồng ở Hải Phòng lên chơi, bảo:

- Để em đem theo lọ mắm tép và cân thịt ba chỉ sang luôn thể. Mắm tép vợ chồng em mới làm vừa ngấu. Chắc cả nhà đều thích. 

Ừ, mắm tép mới, cái mùi của nó mới thơm làm sao, khiến ai nấy đều ứa nước miếng. Cô em tôi nghiêng bát mắm, nó sánh như cháo nếp, màu đỏ như màu vỏ chay. Anh chị em tôi không ai bảo ai mà cùng lặng đi giây lát. 

Ấy là chúng tôi dường như đều chợt nhớ đến mẹ tôi cùng dì Hai, mẹ của các em tôi. Nhớ chiếc mâm đồng vàng rượi, nhớ bộ đĩa sứ Giang Tây men lam trong vắt, nhớ liễn mắm đỏ au bên đĩa khế xòe hoa sao năm cánh. Nhớ một chiều đông ấm đi học về, nghe mùi cơm mới dậy lên từ căn bếp cũ. Nhớ đôi bàn tay mẹ một đời làm lụng vất vả, đen đúa, gân guốc, sao mà thương đến thế. Nhưng cũng từ đôi bàn tay ấy, đã cho cha con tôi ngàn vạn bữa cháo cơm ấm áp, thảo thơm, đến suốt một đời không thể nào quên.

 Nhớ dáng mẹ tôi xưa, áo cánh nâu, khăn vấn, miệng ăn trầu bỏm bẻm, lưng cúi gập trên rá tép riu đang nhảy lao xao trên mặt chậu thau đồng nước trong văn vắt. Thính mẹ tự rang, lọ mẹ tự rửa, phơi khô sạch sẽ. Tép tự tay mẹ giã, sợ các con làm bắn ra ngoài cối thì phí của. Duy nhất, bà chỉ bảo các con ra xin bố chén rượu trắng và giã thêm khúc riềng già vắt nước, cho vào lọ mắm lấy mùi thơm. Việc phơi mắm, trở mắm trên gác thượng đều là do dì tôi săn sóc. Mắm tép được nắng, trở màu đỏ rực, thơm phức.

Sau này, mẹ tôi lớn tuổi, dì tôi thế chỗ, cũng ngồi đãi tép, giã tép. Vẫn ở đúng góc bếp giáp sân trong. Dì tóc búi dày nặng, áo cánh phin nõn trắng, cũng ăn trầu môi cắn chỉ. Dì tinh mắt hơn mẹ tôi, nên đãi tép, nhặt sạn rất nhanh, giã mắm cũng nhuyễn hơn thì phải. Dì còn tranh thủ dạy dỗ chị em tôi cách muối mắm tép sao cho đỏ, cho thơm.  

Đại khái là, cứ 10 bát tép thì một bát muối, 1 bát thính gạo rang hay ngô nếp rang, giã mịn, rây kỹ, thêm 1 bát rượu trắng. Nhưng thính và rượu không cho cùng muối ngay từ ban đầu. Mà phải đợi một hai ngày sau mới cho. Quan trọng nhất, là phải nhớ phơi mắm, trở mắm cẩn thận. Tuyệt đối tránh ruồi bọ đậu vào, là mắm sẽ bị hỏng. Nếu trời thiếu nắng thì đem hũ mắm để cạnh bếp lò than nấu cơm, cho mắm mau ngấu, sớm được ăn.  

Thấm thoắt thế mà cả bố mẹ tôi cùng dì tôi đều đã khuất núi vài chục năm rồi. Biết bao thương nhớ, những người muôn năm cũ. 

Bên ngoài kia, bầu trời hoàng hôn đã ngả màu tối sậm. Gió chiều nổi lên đưa hương hoa sữa thoang thoảng sà xuống hiên nhà. Mùa đông đã tới thật là gần. Một mùa đông ấm áp. 

Tuỳ bút của Vũ Thị Tuyết Nhung
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang