VĂN HÓA - GIÁO DỤC
Cập nhật 19:59 | 30/03/2020 (GMT+7)
.

Kết nối mạng lưới bảo tồn di sản

07:56 | 06/12/2019
Đô thị hóa, tăng trưởng kinh tế đang tạo áp lực không nhỏ đến di sản văn hóa và thiên nhiên ở tất cả các quốc gia trên thế giới. Trong bối cảnh đó, việc phát hiện, bảo tồn, phát huy giá trị di sản cần những cách tiếp cận mới mẻ hơn, tạo nên nguồn lực tổng hợp, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững.

Đồng hành và chia sẻ

Phát biểu tại hội thảo quốc tế về “Vai trò của Ủy ban Quốc gia UNESCO trong công tác bảo tồn di sản văn hóa và thiên nhiên vì phát triển bền vững” ngày 5.12, GS.TS. Trương Quốc Bình, Ủy viên Hội đồng Di sản văn hóa Quốc gia nhớ lại 40 năm trước, thời kỳ hoạt động đối ngoại của Việt Nam gần như “đóng băng”. Văn hóa đã trở thành cầu nối giữa Việt Nam với thế giới, bắt đầu từ sự đồng hành của UNESCO trong việc bảo vệ, tu sửa và tôn tạo di tích cố đô Huế. Phó Giám đốc Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế Nguyễn Phước Hải Trung đáp lại gợi mở này: “Ngay từ những năm đầu của thập niên 1980, UNESCO phát động chiến dịch thông qua Nhóm công tác Huế - UNESCO và Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam, vận động hỗ trợ quốc tế nhằm kêu gọi sự quan tâm của cộng đồng trong và ngoài nước để cứu vãn quần thể di tích Huế thoát khỏi sự xuống cấp nguy hại. Đến nay, Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam được xem là kênh kết nối nhanh, mang lại hiệu quả cao nhất để Huế có những di sản được công nhận đáng tự hào như hôm nay”.


Quần thể di tích Cố đô Huế được UNESCO vinh danh là Di sản Thế giới năm 1993

Có thể nói, qua UNESCO, Việt Nam đã rút ra nhiều bài học, vận dụng nhiều tư tưởng, quan điểm vào quá trình xây dựng, sửa đổi, bổ sung Luật Di sản văn hóa, vận dụng tri thức giúp hoạt động bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa. Tính từ thời điểm Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam được hình thành, qua 40 năm, Việt Nam đã có 39 di sản được UNESCO công nhận. Các di sản này là niềm tự hào, góp phần quảng bá đất nước, con người, góp phần từng bước xây dựng thương hiệu địa phương, đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững. Nhiều chuyên gia khẳng định, đó là nền tảng quan trọng trong bối cảnh thế giới phát triển nhanh chóng, thể hiện quyết tâm của Việt Nam chuyển từ khát vọng sang hành động, vì sự phát triển bền vững và nhân văn.

“Di sản là báu vật mà thiên nhiên ban tặng cho đất nước ta hoặc kết tinh lao động sáng tạo mà ông cha ta từ đời này qua đời khác đã dày công tạo dựng. Chúng ta phải quán triệt tinh thần là cái gì cũng có thể xây dựng được, sản xuất được, sáng tác được, nhưng di sản thì không thể tạo ra được”. Nhắc lại chỉ đạo của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại hội nghị “Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam vì sự phát triển bền vững” năm 2018, Tổng Thư ký Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam Mai Phan Dũng cho rằng, việc bảo tồn và phát huy các giá trị di sản ngày càng cấp thiết để hoàn thành mục tiêu phát triển bền vững, cân bằng, hài hòa của quốc gia và địa phương có di sản. Muốn vậy, bảo tồn, phát huy giá trị di sản luôn cần sự định hướng, cũng như sự kết nối mạng lưới, chia sẻ kinh nghiệm giữa các khu di sản, chính quyền địa phương, trong nước và thế giới.

Cân bằng và hài hòa

Việc kết nối mạng lưới để chia sẻ kinh nghiệm trong quản lý, bảo tồn di sản cần đặt trong bối cảnh đô thị hóa, tăng trưởng kinh tế đang tạo áp lực không nhỏ đến di sản ở tất cả quốc gia. Theo Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO tại Hà Nội Michael Croft, bài toán phải giải quyết là phát huy vai trò của các cơ quan quản lý di sản, hiện thực hóa tham vọng nâng cao giá trị của di sản trong chiến lược phát triển của mỗi quốc gia. “Phương pháp bảo vệ, phát huy di sản phải đi trước thời đại, phải sáng tạo, thực sự đổi mới. Muốn vậy, những cơ quan như Ủy ban Quốc gia UNESCO phải chủ động nắm bắt xu hướng, phối hợp chặt chẽ với các địa phương, cơ quan liên quan, củng cố cơ hội phát triển kinh tế của di sản theo hướng bền vững...”.

“Củng cố cơ hội phát triển kinh tế của di sản theo hướng bền vững” thực ra là hướng đi mà nhiều địa phương trên cả nước đang thực hiện. Đơn cử trường hợp Quần thể Danh thắng Tràng An sau khi được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, với phương châm biến di sản thành tài sản, nguồn lực thành động lực, biến môi trường thành thị trường, Ninh Bình xác định 4 đối tác quan trọng trong bảo tồn di sản là: Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về di sản văn hóa; doanh nghiệp nhà nước và tư nhân có chiến lược phát triển bền vững; cộng đồng cư dân địa phương nhiệt tâm; đối tác trung gian là các nhà khoa học làm chức năng tư vấn, kết nối hai đối tác trên. Đây chính là kinh nghiệm tốt trong bảo tồn, phát huy giá trị di sản trong bối cảnh hiện nay.

Tuy nhiên, quá trình này cũng vấp phải khó khăn do phát sinh nhiều yếu tố, như mô hình hợp tác công - tư, hợp tác quốc tế... Phó Giám đốc Ban quản lý Quần thể Danh thắng Tràng An Phạm Sinh Khánh cho biết: Những năm qua, Ninh Bình từng bước thu hút đầu tư, đa dạng hóa sản phẩm du lịch, trong đó tổ chức quản lý, khai thác Quần thể Danh thắng Tràng An theo mô hình “hợp tác công - tư” nhưng một số quy định pháp luật liên quan chưa hoàn thiện và đồng bộ, do đó việc triển khai còn nhiều khó khăn và vướng mắc.

Càng khó khăn và vướng mắc càng cần sự vào cuộc và chung tay của nhiều cơ quan, nhân tố trong bảo tồn và phát huy giá trị di sản. Tổng Thư ký Ủy ban Quốc gia UNESCO Mông Cổ Uyanga Sukhbaatar chia sẻ kinh nghiệm: “Ngay sau khi Ủy ban chúng tôi ra chương trình về bảo tồn di sản văn hóa và thiên nhiên, các cơ quan quản lý di sản đã thành lập ủy ban chỉ đạo thực hiện chương trình ở các cấp, đưa vào nhà trường, áp dụng giảng dạy liên ngành. Một bộ học cụ về di sản (Heritage in a box) cũng được phổ biến trên toàn quốc, sổ tay hướng dẫn bảo tồn, phát huy giá trị di sản được đưa tới người dân sống trong khu di sản. Đấy chỉ là ví dụ cho thấy nỗ lực phối hợp thông tin, hoạt động giữa các đơn vị về bảo tồn và phát huy giá trị di sản, mà các cơ quan trung gian như Ủy ban Quốc gia UNESCO có thể đóng góp vì sự phát triển bền vững”.

Thái Minh
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang