VĂN HÓA - GIÁO DỤC
Cập nhật 14:58 | 16/09/2019 (GMT+7)
.

“Người về có nhớ thương binh”

08:40 | 28/07/2019
Lịch sử tân nhạc Việt Nam ghi nhận đây là bài hát về đề tài thương binh đầu tiên, trước khi ngày 27.7 được lấy làm Ngày Thương binh - Liệt sĩ.
“Chiều về, chiều về trên cánh đồng xanh
Có nàng gánh lúa cho anh ra đi giết thù
Từ ngày chinh chiến mùa thu
... Có chàng ra lính biên khu tung hoành
Chiều về trên cánh đồng xanh
Chiều quê hằng nhớ người trai
Và em nhìn tháng ngày trôi
Nhớ người xa, xa vời
Người vì non nước xa xôi
 Một chiều, một chiều trên quãng đường xa
Bóng người anh dũng năm xưa ra đi chốn này
... Từ ngày chinh chiến mùa thu
Người quê còn nhớ người chăng
Vì ai vào chốn tử sinh
Chiến trường quên, quên mình
Người về có nhớ thương binh...”

“Vào mùa Xuân năm 1947 này, đoàn văn nghệ của chúng tôi đang đóng quân ở Vĩnh Yên, sau khi từ Sơn Tây qua Phúc Yên để tới đây. Đã tới nơi sản xuất ra một loại sơn dầu đặc biệt của nước ta. Ở vùng này, trước khi tổ chức Quân Nhu gửi được người vào vùng Pháp chiếm để mua nilon đem ra làm áo che mưa cho bộ đội, tôi thấy người ta chế ra những tấm vải có sơn dầu không thấm nước, dùng để bọc quần áo và thức ăn khi gặp mưa.

Chúng tôi gặp cái lạnh đầu tiên trong kháng chiến. Lạnh này chưa thấm thía gì so với cái lạnh Bắc Kạn hay Lạng Sơn sau này. Nhưng bây giờ, ngoài thứ vải sơn dầu để che mưa, người đi kháng chiến có thêm cái áo trấn thủ rất giản dị và rất ngộ nghĩnh đối với thanh niên thị thành như chúng tôi. Trong cái Tết kháng chiến đầu tiên này, tôi thấy không còn gì ấm lòng hơn là được đồng bào đem đến tặng cho đoàn văn nghệ những cái bánh chưng còn nóng hổi. Tình gia đình đang thiếu thốn, có tình đồng bào đến để thay thế. Chúng tôi ngồi ăn bánh chưng ở trên ổ rơm để hưởng hương vị ngày Tết. Lúc đó đoàn văn nghệ đi tới đâu cũng thường ăn ở tại những nơi công cộng như trụ sở của Ủy ban Hành chính - Kháng chiến (gọi tắt là Hành - Kháng) đặt ở trường học hay đình chùa. Riêng tôi vì thích sống tách rời nên tôi thường tới ăn ngủ ngay ở trong nhà đồng bào. Đêm đêm tôi ngồi ở trong màn đốt nến lên để viết nhạc.

Miền trung du vào thời điểm mùa Xuân 1947 là nơi có đông đảo đồng bào ở các đô thị di tản lên. “Những thành phố nấm” (được gọi như vậy là vì mọc lên một cách rất nhanh chóng, do dân tản cư tạo ra) đã có mặt ở nhiều nơi và là những chợ trời với khá đầy đủ những đồ tiêu dùng mà người đi kháng chiến cần đến hàng ngày như xà phòng, thuốc đánh răng, kim chỉ, thuốc men... Và tôi gặp một người bạn tên là Lý Ngọc, dân phố Bờ Hồ (sát phố Hàng Dầu của thời tôi còn thơ), đang chống nạng đi trong chợ trời...

Lý Ngọc là lính trong Trung đoàn Thủ Đô, ở lại Hà Nội để chống cự với lính Pháp cho tới khi bị thương và bị cưa chân. Trung đoàn Thủ Đô với các anh em thanh niên tự vệ giữ được Hà Nội từ đêm 19.12.1946 cho tới ngày 17.2.1947 mới chịu rút lui, đem theo rất nhiều dân thành phố và để lại cho quân đội Pháp một Hà Nội vắng tanh, đổ nát và buồn thiu.

So với thời tôi kháng chiến ở Nam Bộ, luôn luôn phải đối mặt với súng giặc, với gian lao, với cái chết... thì mấy tháng đầu của cuộc toàn quốc chiến này có vẻ thanh bình quá, nên thơ quá. Tôi thảnh thơi đi hát và soạn ra những “thanh niên ca” vui tươi cho đám người đang rời bỏ các thành thị ra sống ở đồng quê và đang nhìn cuộc kháng chiến đẹp như trong tiểu thuyết. Gặp Lý Ngọc, tôi có ngay đề tài mới để đưa vào một bài dân ca mới đầu tiên của nhạc Việt Nam hiện đại. Theo tôi, nhân vật điển hình và nổi bật của thời đại không phải là những thanh niên rời bỏ thành thị đi về đồng quê mà phải là anh thương binh. Có lẽ tôi là người đầu tiên đưa nhân vật điển hình này vào âm nhạc.” (Phạm Duy - Hồi ký tập 2, Thời Cách mạng Kháng chiến, Chương 12).

Nhà nghiên cứu âm nhạc Mỹ Jason Gibbs đã nhận xét: “Phạm Duy dùng một hình thức khúc thức (strophic) để kể một câu chuyện ba phần. Phần đầu, người chiến sĩ vắng mặt được giữ trong tâm tưởng của bà con làng xóm trong khung cảnh cánh đồng lúa xanh. Anh đang bảo vệ cả nơi chốn và con người quê nhà; cùng lúc ấy họ làm việc thay cho anh và cổ vũ sức chiến đấu của anh. Đoạn thứ hai, trong hành trình về quê của anh, kể về sự anh dũng và mất mát của anh cũng như nỗi lo lắng phiền muộn về sự tiếp đón tương lai ở quê nhà. Đoạn ba nối tiếp nỗi lo lắng đó cho tới khi sự hiện diện của anh trở nên được nguyên vẹn lần nữa nhờ những món quà và tình cảm ấm áp của những người anh đã vì họ ra đi chiến đấu. Lời ca dùng một ngôn ngữ đơn giản và không ngại ngần mô tả những thực tế xấu xí của chiến tranh (một sự tương phản với những cánh đồng xanh và sự ấm cúng xóm giềng nơi quê nhà) hay sự mất mát của người lính - “thân tàn” và “cụt tay”. 

Tên gốc của bài này vốn đơn giản chỉ là “Dân ca thương binh” phản ánh dự định viết một bài dân ca thật sự của Phạm Duy. Trong hồi ký, Phạm Duy ngẫm nghĩ rằng người thành phố sống trong cảnh xa cách với quần chúng và ông quyết định viết nhạc để tiếp cận họ: “Tôi soạn dân ca mới hoàn toàn với bản năng… Tôi cũng thấy rõ ràng là 90 phần trăm đồng bào của chúng ta là dân quê cho nên đưa ra hình thức dân ca mới vì tôi cho rằng quân ca hay thanh niên ca chỉ phản ảnh tâm tình của tuổi trẻ thuộc lớp thị dân mà thôi. Dân ca mới phản ánh được tâm tình của dân quê. Tôi đã quyết định ngay từ lúc đó là cùng tiến lên với nhân dân. Nhất định không đưa ra những hình thức âm nhạc xa vời đối với nhân dân”.

Đầu năm 1948, có một cuộc thi viết bài hát chủ đề thương binh. Mặc dù là tác phẩm dự thi nổi tiếng và giàu tính dân ca nhất, bài hát của Phạm Duy không nằm trong số những bài hát đoạt giải. Dù sao, lịch sử tân nhạc cũng ghi nhận đây là bài hát về đề tài thương binh đầu tiên, trước khi ngày 27.7 được lấy làm ngày thương binh, liệt sĩ.

Bản thu này của hãng ORIA ghi ngày 17.8.1950 với thể hiện của ca sĩ Hải Minh, chính là nhạc sĩ Trần Văn Khê (1921 - 2015). Ông từng nổi tiếng về âm nhạc ngay từ khi học Trường Petrus Ký ở Sài Gòn, sau đó ông ra Hà Nội học trường Thuốc vào năm 1942. Thời gian này ông tham gia ban âm nhạc của Tổng hội sinh viên Đại học Đông Dương, cùng với các bạn như Lưu Hữu Phước, Huỳnh Văn Tiểng, Mai Văn Bộ, tạo nên một giai đoạn sôi nổi khi họ thành hạt nhân của phong trào sáng tác chủ đề “thanh niên - lịch sử”, viết các bài ca ái quốc. Năm 1949, Trần Văn Khê sang Pháp du học, và sau trở thành một giáo sư âm nhạc nổi tiếng thế giới, chuyên về nhạc cổ và có công lớn trong việc giới thiệu, quảng bá âm nhạc cổ truyền Việt Nam. Ngay từ khi Việt Nam bị cấm vận, năm 1976, ông đã tìm cách về nước để ghi âm các bản ca trù và chèo do các nghệ nhân biểu diễn để đưa vào kho lưu trữ của UNESCO, đặc biệt đã vận động in một số đĩa hát ghi lại giọng các ca nương Quách Thị Hồ, Nguyễn Thị Phúc và nhiều nghệ nhân nổi tiếng khác. Những đóng góp này là cơ sở cho việc UNESCO công nhận quan họ và ca trù là Di sản phi vật thể của nhân loại vào năm 2009.

Nguyễn Trương Quý
Xem tin theo ngày:
GIÁO DỤC
08:12 14/09/2019
Theo kết quả xếp hạng đại học thế giới 2020 (World University Rankings 2020) của Thời báo Giáo dục đại học (Times Higher Education, THE), lần đầu tiên ĐHQG Hà Nội có mặt trong danh sách này, cùng với Trường Đại học Bách khoa Hà Nội thuộc nhóm 801 - 1.000 thế giới, ĐHQG TP Hồ Chí Minh ở nhóm 1.000+. Phó Giám đốc ĐHQG Hà Nội Nguyễn Hoàng Hải cho biết, bảng xếp hạng của THE có một số tiêu chí hàm chứa độ thách thức cao hơn đối với giáo dục đại học Việt Nam nói chung, nên đây là sự ghi nhận nỗ lực và khẳng định vị trí của 3 cơ sở giáo dục đại học.
Quay trở lại đầu trang