VĂN HÓA - GIÁO DỤC
Cập nhật 23:46 | 05/06/2020 (GMT+7)
.

Tọa đàm “Tự chủ đại học - nhìn từ chính sách, pháp luật”

15:05 | 16/11/2018
Tự chủ đại học (ĐH) là một thuộc tính, nhu cầu tự thân của ĐH. Nghị quyết 77/NQ-CP của Chính phủ về việc thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở giáo dục đại học (GDĐH) công lập ban hành cuối năm 2014 nhằm thực hiện Nghị quyết 29/NQ-TW, với nhiều điểm đột phá đã tạo điều kiện cho các cơ sở GDĐH mạnh dạn xin thực hiện tự chủ hoàn toàn.

Đến nay có 23 trường ĐH được tự chủ cho là chất xúc tác mạnh, tạo động lực cho toàn hệ thống GDĐH phát triển, minh chứng cho tính đúng đắn từ tinh thần của nghị quyết. Tuy nhiên, sau 3 năm triển khai Nghị quyết 77/NQ-CP, cho thấy những trường được thí điểm tự chủ còn vướng nhiều rào cản, trong đó chính sách, pháp luật về tự chủ chưa đồng bộ, bất cập; cơ chế quản lý theo chế độ Bộ chủ quản không còn phù hợp; thiếu quy định và định nghĩa cụ thể về tự chủ và quyền của các trường đại học trong việc xác định quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của trường…

Với mục đích khắc phục những bất cập đang cản trở quá trình tự chủ đại học, tạo môi trường phát triển cạnh tranh lành mạnh công bằng giữa các ĐH công và tư, Dự án Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học lần này sẽ tạo hành lang pháp lý như thế nào để thúc đẩy GDĐH phát triển và hội nhập. Để làm rõ vấn đề này, Báo Đại biểu Nhân dân tổ chức tọa đàm với chủ đề  “Tự chủ đại học - Nhìn từ chính sách, pháp luật”.


Ảnh: Quang Khánh

Khách mời tham gia Tọa đàm gồm:

- TS Phạm Tất Thắng, Phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội;

- PGS. TS Nguyễn Văn Phúc, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo;

- PGS.TS Đặng Quang Việt, Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo;

- PGS. TS Lê Minh Thắng, Chủ tịch Hội đồng trường ĐH Bách khoa Hà Nội;

- PGS. TS Hoàng Văn Cường, Phó Hiệu trưởng trường ĐH Kinh tế Quốc dân;

- PGS.TS Nguyễn Thị Nhung, Phó Hiệu trưởng trường ĐH Mở Hà Nội. 

Tọa đàm mong muốn các ĐBQH, chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý chia sẻ ý kiến về những ưu điểm cần phát huy, những khó khăn, vướng mắc cần tháo gỡ để đẩy nhanh tiến trình tự chủ của các trường ĐH cùng với tự chịu trách nhiệm, nâng cao tính sáng tạo, cạnh tranh và phát triển, giảm gánh nặng ngân sách cho Nhà nước.

Trân trọng kính mời bạn đọc theo dõi nội dung Tọa đàm tại đây:

Tự chủ - Xu thế tất yếu trong giáo dục đại học

Phó TBT Lê Thanh Kim: Để phát triển và hội nhập, GDĐH Việt Nam không còn sự lựa chọn nào khác là phải thực hiện đẩy mạnh tự chủ ĐH theo lộ trình và điều kiện của đất nước, nhưng về cơ bản phải theo quy luật phát triển GDĐH thế giới. Nhìn từ các trường ĐH đã ít nhiều thành công trong cơ chế tự chủ cho thấy, không phải không có những e dè, lo ngại nếu “bầu sữa” ngân sách bị cắt giảm. Song, thuận lợi mà trường có được khi thực hiện theo cơ chế tự chủ lại rất lớn. Nhiều ràng buộc mang tính chất hành chính, quản lý nhà nước được tháo gỡ đáng kể. Trường được chủ động mở chương trình đào tạo mới, tuyển dụng giảng viên giỏi, liên kết với các trường quốc tế để đa dạng hóa sản phẩm đào tạo…

Vậy, thưa PGS. TS Nguyễn Văn Phúc, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, xin ông cho biết, sau 3 năm thực hiện thí điểm Nghị quyết 77/NQ-CP, lộ trình tự chủ của 23 trường ĐH đã đạt được những kết quả nào đáng chú ý?


PGS. TS Nguyễn Văn Phúc, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo - Ảnh: Quang Khánh

PGS. TS Nguyễn Văn Phúc: Năm 2013, Ban chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết 29-NQ/TW về Đổi mới căn bản toàn diện giáo dục. Năm 2014, để thực hiện Nghị quyết 29-NQ/TW, Chính phủ đã tiến hành thí điểm với các trường đại học công lập bằng Nghị quyết 77/NQ-CP. Thí điểm này để mở rộng tự chủ, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các cơ sở giáo dục đại học. Từ thí điểm đó có kết quả tốt thì chúng ta sẽ tiến hành nhân rộng.

Sau hơn 3 năm thực hiện, những kết quả bước đầu đã rất tích cực, nội dung của thí điểm cho 23 trường của Nghị quyết 77/NQ-CP hiện nay đang được thể chế hóa trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học, mà Quốc hội dự kiến thông qua vào kỳ họp lần này. Nội dung Nghị quyết 77/NQ-CP thí điểm trên 3 mặt: tự chủ về chuyên môn, nhân sự tổ chức và tài chính, tài sản.

Về chuyên môn, các trường mở rộng tự chủ vấn đề liên quan đến đào tạo, hợp tác quốc tế, nghiên cứu khoa học. Sau kết quả hơn 3 năm, các trường có kết quả tích cực, các trương trình đào tạo phát trển mới, chương trình chất lượng cao, chương trình tiên tiến, chương trình liên kết với nước ngoài... các trường đã chú trọng về chất lượng, quy mô đào tạo đã được điều chỉnh hợp lý, phần lớn các trường đã được kiểm định. Với quy mô lớp học, các trường cũng đã điều chỉnh giảm để đổi mới phương pháp đào tạo, nâng cao về chất lượng. Nghiên cứu khoa học cũng có kết quả tích cực, đặc biệt là công bố quốc tế. Khi tự chủ, các trường đã chủ động trong hoạt động nghiên cứu khoa học, sử dụng đội ngũ của mình, có cơ chế khuyến khích thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học và công bố quốc tế đã tăng mạnh trong các trường tự chủ. 

Về tự chủ tổ chức nhân sự, bộ máy, sau khi tự chủ, các trường đã tiến hành rà soát sắp xếp lại bộ máy, hoàn thiện mô hình quản trị, phần lớn các trường tự chủ đã thành lập hội đồng trường, củng cố tổ chức bộ máy bên trong cho hiệu quả. Các trường đã ban hành rất nhiều quy định nội bộ để hoàn thành tổ chức. Những vấn đề tuyển dụng, sử dụng, trả thu nhập gắn với kết quả công việc tạo động lực bên trong đã có sự thay đổi.

Về tài chính, tài sản, các trường phải tự chủ chi thường xuyên 100%, đồng thời chi đầu tư cũng phải tự chủ với các dự án dở dang tiếp tục, nhưng bù lại các trường được tăng học phí để bù đắp. Lúc đầu các trường cũng lo ngại về tăng học phí, nhưng đến nay tăng học phí đi liền với chất lượng, các trường cũng thu hút được người học và tự chủ tài chính tốt. Việc tự chủ tài chính cũng giúp cho các trường có nguồn lực đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, đầu tư nâng cao chất lượng đào tạo, thúc đẩy nghiên cứu khoa học. Điều quan trọng nữa là các trường cũng dành nguồn lớn để bổ sung vào quỹ học bổng, phần lớn các trường tự chủ, học bổng đã tăng nhiều dành cho các đối tượng chính sách. Đấy là những kết quả ban đầu tích cực trong việc thí điểm Nghị quyết 77/NQ-CP.

Phó TBT Lê Thanh Kim: Thưa PGS. TS Lê Minh Thắng, ĐH Bách Khoa là một trong những trường đầu tiên thực hiện thí điểm tự chủ. Trong quá trình triển khai, trường đã gặp phải những khó khăn, vướng mắc ra sao?


PGS. TS Lê Minh Thắng, Chủ tịch Hội đồng trường ĐH Bách khoa Hà Nội - Ảnh: Quang Khánh

PGS. TS Lê Minh Thắng: Trường ĐH Bách Khoa Hà Nội đã thực hiện tổng kết quá trình thực hiện tự chủ ĐH và chỉ ra được những tác động tích đến sự phát triển của nhà trường. Trước hết là vấn đề nhận thức của cán bộ nhà trường đã hiểu rõ vấn đề tự chủ nhà trường, chịu trách nhiệm trên cơ sở gắn với trách nhiệm với xã hội. Chính điều này đã thúc đẩy chúng tôi hiểu rõ việc phát triển nhà trường gắn với việc đảm bảo chất lượng, tính đến sự hiệu quả kinh tế. Chính vì vậy, nhà trường có rất nhiều đổi mới trong việc thay đổi cơ cấu tổ chức và phương pháp quản trị nhà trường, giảm các đơn vị đầu mối, mô hình tổ chức phù hợp với tiến trình tự chủ và tương đối tiếp cận với các trường ĐH trên thế giới.

Đối với cơ sở vật chất nhà trường, chúng tôi cũng đã chủ động hơn trong việc đầu tư cơ sở vật chất nhằm đảm bảo phục vụ quá trình đào tạo của sinh viên, đó cũng là lý do nhà trường tạo được bước nhảy vọt thứ hạng trong bảng xếp hạng danh tiếng trên giới.

Việc thu hút cán bộ, các chính sách tuyển dụng cũng được đổi mới để có thể thu hút được nhiều cán bộ giỏi làm việc tại trường. Nhà trường cũng có những chính sách thu hút trong việc quảng bá tuyển sinh để thu hút sự quan tâm đến trường một cách chủ động và có những kết quả hết sức tích cực. Trong 2 năm tự chủ, số lượng tuyển sinh của Nhà trường rất cao và chất lượng tuyển sinh cũng nằm trong top những trường ĐH cao nhất cả nước. Bên cạnh đó, chế độ học phí của Nhà trường cũng được làm đúng cam kết với Chính phủ và được áp dụng một cách linh hoạt, phù hợp với các ngành học khác nhau của nhà trường. Chính sách hỗ trợ học bổng cũng được quan tâm và đổi mới, nhà trường không chỉ chú trọng đến việc cấp học bổng cho sinh viên có thành tích xuất sắc mà còn có quan tâm nhiều hơn cho những sinh viên có hoàn cảnh khó khăn. Đó là những tác động tích cực trong quá trình tự chủ mang lại cho nhà trường.

Bên cạnh những tác động tích cực, trường ĐH Bách Khoa Hà Nội cũng gặp rất nhiều vướng mắc và khó khăn. Một trong vướng mắc lớn đó là hệ thống văn bản pháp luật của Nhà nước chưa được đồng bộ, điều này không chỉ trường ĐH Bách Khoa mà các trường ĐH khác cũng nhận thấy và đã được tổng kết trong một số báo cáo về quá trình tự chủ trước đây. Ví dụ như Luật Ngân sách Nhà nước, Luật Đầu tư công, Luật Viên chức… chưa phù hợp với nội dung Chính phủ cho phép trường tự chủ. Vì vậy một số nội dung trường được phép tự chủ nhưng trên thực tế không thực hiện được, ví dụ như việc liên kết sử dụng tài sản của nhà trường liên kết, liên doanh để phát triển đào tạo khoa học công nghệ. Các nguồn từ ngân sách Nhà nước như khoa học vẫn phải quyết toán theo Luật Ngân sách Nhà nước rất phức tạp, gây ra khó khăn trong quá trình thực hiện, không thể đẩy nhanh hơn được. Ngoài ra, đối với quy định về Hội đồng trường trong Luật Giáo dục năm 2012 còn chưa đầy đủ, chưa rõ ràng, chưa phù hợp cho nên làm cho vai trò của Hội  đồng trường trong việc quản trị nhà trường chưa được như kỳ vọng, mong muốn. 

Vướng mắc thứ hai là nguồn ngân sách nhà trường sau tự chủ chủ yếu dựa vào học phí, việc này ảnh hưởng đến việc đầu tư cho nghiên cứu khoa học cơ sở vật chất của nhà trường. Đặc biệt, đối với trường kỹ thuật và công nghệ như trường ĐH Bách khoa Hà Nội thì việc đầu tư cho nghiên cứu khoa học và cơ sở vật chất những trang thiết bị hiện đại, đắt tiền, không thể dựa vào học phí. Trong 2 năm đầu tự chủ, nguồn thu chủ yếu là học phí nên việc nghiên cứu khoa học và cơ sở vật chất của Nhà trường còn hạn chế. 

Đối với chính sách miễn giảm thuế dịch vụ, chúng tôi nhận thấy còn chậm triển khai, chính sách  hỗ trợ lãi suất cho vay chưa được triển khai. Ngoài ra, quá trình tự chủ cũng gặp phải một số khó khăn trong bối cảnh hiện nay của GDĐH là sự phát triển mạnh mẽ của các trường ĐH ngoài công lập, cũng như các trường ĐH trong khu vực tạo ra sự cạnh tranh giữa các trường ĐH. Đối với các trường ĐH ngoài công lập thì những đầu tư về lương, cơ sở vật chất ban đầu cho cán bộ rất tốt, điều này ảnh hưởng đến sự thu hút cán bộ giỏi của trường.

Một vấn đề nữa là sự phát triển KT - XH của đất nước cũng ảnh hưởng đến quá trình tự chủ của nhà trường. Mặc dù nhà trường rất cố gắng nhưng hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam chưa quan tâm nhiều đến vấn đề nghiên cứu phát triển. Chính vì vậy, nguồn đầu tư từ doanh nghiệp tức vào nhà trường chưa được mạnh và chưa được mong muốn. Đó cũng là một trong khó khăn chính mà chúng tôi gặp phải trong quá trình triển khai tự chủ.

Phó TBT Lê Thanh Kim: Thưa PGS.TS Nguyễn Thị Nhung, Phó Hiệu trưởng trường ĐH Mở Hà Nội, là trường công đầu tiên tự chủ được chi thường xuyên, xin bà chia sẻ một số kinh nghiệm của mình?


PGS.TS Nguyễn Thị Nhung, Phó Hiệu trưởng trường ĐH Mở Hà Nội - Ảnh: Quang Khánh

PGS. TS Nguyễn Thị Nhung: Mỗi cơ sở đào tạo đều có mục tiêu, vướng mắc cũng như đặc thù riêng của mình; khó có thể có bài học hoặc những kinh nghiệm của trường này có thể áp sang trường khác. Tuy nhiên, tôi cũng xin chia sẻ những kinh nghiệm của trường ĐH Mở Hà Nội, là một trong những đơn vị đầu tiên từ những năm 90 của thế kỷ trước, ngay từ khi mới bắt đầu thành lập đã được Nhà nước giao cho tự chủ về chi thường xuyên. Đây cũng là áp lực và khó khăn của nhà trường, phải tự cân đối, tự tìm, tự huy động nguồn vốn, nguồn lực cho nhà trường ổn định để có thể phát triển. Và một bài toán đặt ra cho nhà trường tại thời điểm đó là nguồn lực chưa thật sự tốt, chưa thật sự mạnh mà vẫn phải đảm bảo các mục tiêu, sứ mệnh cũng như điều kiện đảm bảo chất lượng. Lãnh đạo đương nhiệm thời kỳ đó cũng đã rất trăn trở và chúng tôi cũng đã giải quyết câu chuyện đó thông qua những vấn đề như sau:

Thứ nhất, vấn đề về nhân sự. Nguồn kinh phí hạn hẹp không cho phép nhà trường trong việc tuyển dụng ồ ạt đội ngũ cán bộ cơ hữu, trong đó chủ lực là giảng viên. Chúng tôi ký hợp đồng thỉnh giảng thay vì tuyển dụng cơ hữu với những đội ngũ giảng viên, chuyên gia giỏi, thu hút về phục vụ cho nhà trường. Thế nên, tổ chức bộ máy của nhà trường rất tinh giản, gọn nhẹ. Từ câu chuyện chúng tôi sử dụng đội ngũ như vậy, vẫn tạo ra chất lượng và tạo được lòng tin đối với xã hội, từ đó thu hút được người học.

Thứ hai, chúng tôi xác định rõ ràng đối tượng mà nhà trường hướng tới. Đa số các trường học lúc bấy giờ hướng tới đối tượng là các em học từ THPT lên học ĐH, nhưng với ĐH Mở Hà Nội xác định đối tượng chủ yếu có hơi khác một chút, đó là những người đã có công ăn việc làm, thậm chí là những người đã có bằng cấp nhưng là những người thật sự có nhu cầu được trang bị kiến thức, được đào tạo bài bản. Cho đến nay, chúng tôi vẫn theo đuổi mục tiêu, xác định đối tượng rõ ràng như vậy. Và chúng tôi cũng đã thực hiện tốt việc đó.

Thứ ba, chúng tôi cũng nhận thức rõ ràng là thay vì đưa người học đến với mình, thì chúng tôi sẽ mang lớp học đến với người có nhu cầu cần học. Và ĐH Mở Hà Nội thời gian vừa qua đã huy động rất tốt các nguồn lực từ xã hội trong điều kiện trường chưa được đầu tư thỏa đáng về điều kiện cơ sở vật chất. Chúng tôi đã huy động nguồn lực đó từ các đơn vị liên kết và nằm rải rác trên khắp cả nước, những nơi nào có thể đáp ứng được điều kiện cơ sở vật chất là chúng tôi có thể mang lớp học đến cho người có nhu cầu học. Đó là một đặc thù từ ĐH Mở Hà Nội khác so với ĐH Bách Khoa Hà Nội hay ĐH Kinh tế Quốc dân và một số trường công khác.

Phó TBT Lê Thanh Kim: Thưa PGS. TS Hoàng Văn Cường, được biết, ĐH Kinh tế Quốc dân là 1 trong 3 trường đang thực hiện đề án thí điểm gỡ bỏ sự quản lý từ cơ quan chủ quản. Điều này sẽ tác động như thế nào đến hoạt động tự chủ của nhà trường? Ông kỳ vọng điều gì từ chính sách này?


PGS. TS Hoàng Văn Cường, Phó Hiệu trưởng trường ĐH Kinh tế Quốc dân - Ảnh: Quang Khánh

PGS. TS Hoàng Văn Cường: Trường ĐH Kinh tế quốc dân lại là một trong 23 trường thực hiện thí điểm tự chủ toàn diện về mặt đào tạo, tổ chức, tài chính. Kết quả tự chủ về cả 3 mặt đã nhận được thành công nhất định. Có lẽ chính nhờ thành công thí điểm tự chủ toàn diện đó, vừa qua Chính phủ đã lấy những ưu việt cũng như quy định cần thiết để đưa vào dự thảo Luật Giáo dục đại học lần này. Dự thảo tập trung vào tăng cường vai trò để các trường có thể tự chủ. Trên thực tế, việc thử nghiệm thành công ở 23 trường có đóng góp rất lớn cho chính sách.

Khi những nội dung về tự chủ toàn diện kể cả về mặt đào tạo, tổ chức, tài chính được luật hóa để triển khai rộng rãi đến tất cả các trường đại học, trường ĐH Kinh tế quốc dân lại tiếp tục nằm trong các trường được thí điêm tự chủ cao hơn, tiến tới mức không cần đến vai trò quản lý của các cơ quan chủ quản nữa. Nguyên lý tiến tới thí điểm tinh thần tự chủ này xuất phát từ một mô hình quản trị ĐH trên thế giới, coi trường ĐH không như doanh nghiệp mà sở hữu của trường là của cả cộng đồng xã hội. Trong đó, bản thân sinh viên vào học trong trường sẽ có quyền với trường đó, yêu cầu trường phải làm thế nào phục vụ tốt nhất mục tiêu của người học. Các doanh nghiệp xã hội là những người sử dụng sản phẩm của trường cũng có quyền yêu cầu, có vai trò tác động để các trường tạo ra sản phẩm phù hợp nhất với yêu cầu sử dụng lao động của họ. Những người cầm tấm bằng của nhà trường đó không phải học xong là xong, mà cũng quay trở lại giám sát để nhà trường phải làm như thế nào để uy tín, danh tiếng, giá trị văn bằng của họ cũng phải được tăng lên. Khi ấy, vai trò quản trị của nhà trường không phải chỉ là Nhà nước mà là những thực thể xã hội, cho nên không cần thiết một cơ quan chủ quản đứng ra như một doanh nghiệp. Mô hình thời gian tới các trường đã được giao là để thực hiện mục tiêu đó.

Hiện nay về cơ bản, đề án đã được định hình và đang trình lên Chính phủ phê duyệt. Tinh thần là trao quyền lớn cho Hội đồng trường, thực hiện không chỉ là chức năng quản trị các hoạt động trong nhà trường mà còn đại diện cho tiếng nói của người học, tiếng nói của các doanh nghiệp cộng đồng xã hội, tiếng nói của học sinh sinh viên trong việc quyết định phương hướng phát triển, sử dụng nguồn lực phù hợp, hiệu quả. Khi đó, hoạt động của nhà trường không phụ thuộc vào cơ quan quản lý Nhà nước mà cơ quan quản lý Nhà nước chỉ đóng vai trò đúng nghĩa là thay mặt xã hội để kiểm tra, giám sát xem các cam kết, tuyên bố của trường có thực hiện đúng hay không cũng như xem các trường có tuân thủ đầy đủ các quy định của Luật. Chúng ta kỳ vọng sau chừng 3 - 5 năm như thời gian qua 23 trường thí điểm tự chủ và thí điểm thành công sẽ đưa ra mô hình quản trị mới, mở ra cơ hội cho các trường có phương thức quản trị giống các trường tiên tiến trên thế giới. Chúng ta cũng kỳ vọng qua thí điểm, đưa ra được một mô hình quản trị mới, nội dung, điều kiện phát triển mô hình đó và tiến tới luật hóa để trở thành quy định chính thức, từ đó giúp cho phát triển đại trà mô hình quản trị đại học theo mô hình quản trị sở hữu xã hội.

Phó TBT Lê Thanh Kim: Thưa PGS. TS Nguyễn Văn Phúc, tự chủ vốn không dễ dàng và đầy thách thức, nhưng theo ông, tại sao chúng vẫn cần phải tự chủ?

PGS. TS Nguyễn Văn Phúc: Trên thế giới, các cơ sở giáo dục đại học tự chủ rất cao. Có thể nói các trường đại học mang đặc điểm đặc biệt, vừa là nơi giảng dạy đào tạo, vừa là nơi nghiên cứu khoa học và sáng tạo ra tri thức mới. Điều đó đòi hỏi một môi trường tạo điều kiện cho giảng dạy và nghiên cứu khoa học, sáng tạo ra tri thức mới tốt nhất. Đây là đòi hỏi tự thân các trường đại học phải vươn lên tự chủ.

Với các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam, do bối cảnh về đặc điểm quản lý kinh tế - xã hội, chúng ta có giai đoạn dài bao cấp. Đến nay đòi hỏi có nguồn nhân lực cao hơn để hội nhập với thế giới, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đòi hỏi cơ sở giáo dục phải năng động, sáng tạo, hội nhập với thế giới, đây là đòi hỏi bức thiết phải tự chủ.

Cũng như thí điểm đang được triển khai và thể chế hóa vào Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học, tự chủ về chuyên môn, tài chính tài sản, nhân sự tổ chức là những điều hết sức cần thiết để cho các cơ sở giáo dục đại học thực sự đủ chủ động, linh hoạt để thực hiện mục tiêu sứ mạng của mình về đào tạo nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học tốt nhất, làm cho toàn bộ hệ thống tốt lên, các trường năng động, cạnh tranh với nhau, vươn ra khu vực, thế giới và nguồn lực của giáo dục đại học sẽ được sử dụng hiệu quả hơn. Tôi tin sẽ có nhiều trường tự chủ thành công, và thực tế đã có trường như Đại học Bách khoa Hà Nội, xếp hạng khu vực và thế giới đã tăng rất nhanh.

Có thể thấy, tự chủ là nhu cầu bức thiết hiện nay, làm sao cho hệ thống giáo dục đại học sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn, chất lượng được nâng lên, đào tạo ra nguồn nhân lực cũng như nghiên cứu khoa học đáp ứng tình hình mới của đất nước.

Phó TBT Lê Thanh Kim:Thưa TS Phạm Tất Thắng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng, theo Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học thì các trường sẽ được tự chủ một cách toàn diện. Liệu đây có phải là giải pháp tất yếu nhằm giúp các trường chuyển mình và bắt nhịp với thực tiễn cũng như hội nhập?


TS Phạm Tất Thắng, Phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội. - Ảnh: Quang Khánh

TS Phạm Tất Thắng: Tôi nghĩ rằng, cái chính của tự chủ trong hành lang pháp lý vừa rồi các đại biểu nêu rất rõ. Chúng tôi cũng chia sẻ thực tiễn, quan điểm sửa đổi luật là làm sao tạo hành lang pháp lý để các trường tự chủ một cách cao nhất; thúc đẩy sự năng động, chủ động, sáng tạo của các cơ sở giáo dục đại học, tạo điều kiện để các cơ sở giáo dục phát triển. Mong muốn là như vậy, nhưng trong thực tế thì việc sửa đổi hệ thống pháp luật, trong đó có Luật Giáo dục đại học để tạo ra cơ chế tự chủ hoàn toàn thì còn có những khó khăn, vướng mắc. Như chúng ta có thể thấy, hoạt động giáo dục đại học được chi phối bởi nhiều luật khác nhau, Luật cơ bản chỉ đạo đó là luật của ngành, còn các lĩnh vực khác lại do luật khác điều chỉnh. Cụ thể, liên quan đến những nguồn thu được điều chỉnh bởi Luật Ngân sách nhà nước, con người thì theo Luật Viên chức; khoa học công nghệ lại do Luật Khoa học, công nghệ... Trong quá trình bàn để sửa đổi Luật Giáo dục lần này, cơ quan soạn thảo đưa một số quan điểm sửa đổi mang tính cởi trói, tháo gỡ những vướng mắc ở các luật khác vào trong luật này. Hiện nay, kỹ thuật lập pháp đang vướng, tức là luật này không thể sửa đổi các luật chuyên ngành khác như Luật Ngân sách, Luật Viên chức, Luật Khoa học công nghệ, mà phải có bước tiếp theo, tức là sau luật này Chính phủ, Bộ Giáo dục- Đào tạo, Quốc hội phải nghiên cứu để đề xuất sửa các luật chuyên ngành khác, thì lúc đó mới có thể tháo gỡ những điểm ngẽn trong quá trình phát triển của các cơ sở giáo dục đại học.

Tuy nhiên, ở đây có một điểm rất đáng chú ý đó là phân cấp, phân quyền từ cơ quan quản lý trước đây được giao rất nhiều cho các cơ sở giáo dục đại học. Những việc trước đây mà Bộ Giáo dục - Đào tạo chỉ đạo, lãnh đạo trực tiếp thì nay phân cho cơ sở giáo dục đại học thông qua cơ chế giao quyền cho Hội đồng trường. Tôi cho rằng đây là điểm mới, đánh giá cao quan điểm của Ban soạn thảo...

Việc sửa đổi luật lần này chưa được như mong muốn, đó là tất cả những chính sách hoạt động của nhà trường có thể tháo gỡ được hay không, nhưng tôi cho rằng điểm quan trọng nhất của tự chủ là tháo gỡ về cơ chế tạo điều kiện cho các cơ sở giáo dục tự chủ đã được thể hiện trong luật này. Và còn có việc rất đặc thù đó là, các trường là nơi tập trung các nhà khoa học có trình độ cao nhất của cả nước, nơi có sự sáng tạo cao nhất thì phải được giao cơ chế để phát huy thế mạnh của mình. Đây là điểm đáng ghi nhận. Và để các trường thực sự như chúng ta mong muốn, trong thời gian tới, Chính phủ cần có nghiên cứu sửa đổi các luật khác tạo điều kiện cho các trường phát triển.

Phó TBT Lê Thanh Kim: Thưa TS Đặng Quang Việt, Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học, hiện các trường ĐH của Việt Nam đã chuẩn bị tâm thế sẵn sàng cho tự chủ?


PGS.TS Đặng Quang Việt, Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo - Ảnh: Quang Khánh

PGS.TS Đặng Quang Việt: Khi tiến hành soạn thảo Dự thảo Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học, chúng tôi đã tổ chức nhiều hội thảo, từ Thái Nguyên, Hà Nội, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh đến Cần Thơ. Tất cả các hội thảo do Bộ Giáo dục và Đào tạo đứng ra tổ chức đều nhận được phản hồi rất tốt từ các trường. Tất cả các trường đều có tiếng nói sẵn sàng tiếp nhận tinh thần của dự thảo Luật, tôi không thấy trường nào phản đối nội dung tự chủ được đi vào Luật. Đó là điều hết sức đáng mừng. Hầu hết các trường ĐH hiện nay đều trong tâm thế sẵn sàng chuẩn bị đón nhận cơ chế, chính sách trong dự thảo luật khi được đưa vào, QH sẽ thông qua trong Kỳ họp tới. Các trường đều được cởi trói, giải quyết các nút thắt để có thể tự chủ tốt hơn. Đó là một trong những chính sách quan trọng nhằm nâng cao chất lượng đào tạo. Theo tôi, đến giờ phút này QH cũng chuẩn bị bấm nút rồi, các trường đã có thể chuẩn bị đón nhận.

Đòn bẩy từ chính sách, pháp luật để các trường tự chủ hoàn toàn

Phó TBT Lê Thanh Kim: Thực tế, khó có một quốc gia nào có thể bao cấp toàn bộ cho giáo dục ĐH. Ngân sách nhà nước có hạn, do đó chỉ nên tập trung đầu tư cho các lĩnh vực khoa học cơ bản, hỗ trợ những đối tượng yếu thế, phần còn lại nên để cho thị trường và thu hút nguồn vốn từ đầu tư xã hội hóa. Vai trò, trách nhiệm của Nhà nước đó là xây dựng hành lang pháp lý để khuyến khích xã hội đầu tư cho phát triển giáo dục, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, công bằng giữa các trường công - tư, xây dựng chế tài kiểm định để đảm bảo chất lượng giáo dục. Sau 3 năm triển khai Nghị quyết 77/NQ-CP, thực tế cho thấy những trường được thí điểm tự chủ còn vướng quá nhiều rào cản như Bộ trưởng Bộ GD - ĐT Phùng Xuân Nhạ từng nêu, trong đó chính sách, pháp luật về tự chủ chưa đồng bộ, bất cập; cơ chế quản lý theo chế độ Bộ chủ quản không còn phù hợp; thiếu quy định và định nghĩa cụ thể về tự chủ và quyền của các trường đại học trong việc xác định quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của trường… đang là rào cản lớn nhất. 

Thưa PGS. TS Nguyễn Văn Phúc, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, dự thảo Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học đang trình QH tại kỳ họp này, nội dung đẩy mạnh tự chủ được thể hiện thế nào qua các nội dung sửa đổi, bổ sung trong dự thảo?

PGS. TS Nguyễn Văn Phúc: Sau khi thực hiện Nghị quyết 77/NQ-CP thí điểm với 23 trường, bên cạnh kết quả tích cực, còn có nhiều hạn chế vướng mắc mà lãnh đạo các trường ĐH và chuyên gia đã có nêu. Các quyết định tự chủ là quyết định của Thủ tướng Chính phủ ký riêng cho từng trường. Nghị quyết của Chính phủ về mặt pháp lý dưới các Nghị định và Luật khác, hơn nữa chi phối vào các trường đại học về mặt pháp lý không chỉ có Luật Giáo dục đại học và Luật Giáo dục mà còn có nhiều Luật khác như Luật Công chức viên chức, Luật Ngân sách nhà nước... khi những Luật này có những yếu tố cản trở đối với tự chủ ĐH sẽ dẫn tới khó khăn cho các trường ĐH. Như vậy, việc thể chế hóa trong văn bản cao nhất của giáo dục đại học rất cần thiết, tạo hành lang pháp lý vững chắc, lâu dài cho các trường đại học thực hiện việc tự chủ của mình.


Ảnh: Quang Khánh

Tuy nhiên, việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học lần này cũng chưa sửa đổi hết được như Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, TN, TN và NĐ Phạm Tất Thắng đã nêu vì có các Luật chuyên ngành khác, sau này khi sửa đổi các Luật khác cũng phải có sửa đổi tương ứng để giúp cơ sở giáo dục đại học tự chủ.

Lần này, 3 nội dung lớn của tự chủ về chuyên môn, học thuật; tổ chức, nhân sự; tài chính, tài sản đều đưa vào trong dự thảo lần này, tạo điều kiện cho các trường khi thực hiện.

Không chỉ với cơ sở giáo dục đại học công lập, nội dung tự chủ được mở rộng các cơ sở giáo dục đại học tư thục, đặc biệt là nội dung liên quan đến vấn đề chuyên môn học thuật, như mở ngành, liên kết đào tạo, hợp tác quốc tế... Các cơ sở giáo dục đại học công lập và tư thục bình đẳng như nhau, chỉ căn cứ trên vấn đề bảo đảm chất lượng. Đây là những nội dung mới, phù hợp với xu thế phát triển, để tạo sự cạnh tranh bình đẳng, năng động và hướng tới chất lượng cao hơn, hiệu quả tốt hơn của toàn bộ hệ thống giáo dục đại học.

Phó TBT Lê Thanh Kim: Thưa PGS.TS Hoàng Văn Cường, gần đây Bộ Y tế và một số đại biểu QH có lên tiếng về những quy định đào tạo đặc thù trong Dự án Luật ĐH, quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào? Theo ông, sẽ có hệ lụy ra sao nếu ngành đặc thù nào cũng đòi tương đương về chương trình và văn bằng đào tạo?

PGS.TS Hoàng Văn Cường: Trong dự thảo Luật Giáo dục đại học lần này quy định 3 cấp độ bằng đại học là Cử nhân, Thạc sĩ và Tiến sĩ. Nhiều đại biểu QH băn khoăn, cho rằng các chương trình đào tạo đặc thù bị bỏ quên. Quả thực, chúng ta cũng thấy có rất nhiều chương trình đặc thù của ngành, không chỉ y tế mà cả văn hóa - nghệ thuật cũng có bằng đặc thù, quân đội cũng có bằng đặc thù... Nếu cứ ngành nào đặc thù chúng ta lại liệt kê ra thì trong Luật này chúng ta phải liệt kê hàng trăm văn bằng. Khi có hàng trăm văn bằng như thế, xã hội không hiểu được bằng này tương đương với cái gì, chính điều đó có thể tạo ra một sự gây rối, hỗn loạn hơn cho xã hội. Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, sự xuất hiện các ngành nghề mới thường xuyên và rất nhanh, khó dự báo. Có thể lúc này chúng ta liệt kê hàng trăm văn bằng nhưng ngay lập tức có ngành nghề mới, lại đào tạo mới và cấp cho họ bằng mới, khi đó lại đòi hỏi sửa Luật. Như vậy, phương án để đáp ứng yêu cầu bằng đào tạo phải được kể tên thì sẽ rất bất cập. Tôi đồng ý với phương án Dự thảo Luật Giáo dục đại học đề ra là 3 cấp độ bằng. Trên cơ sở đó những chương trình đào tạo đặc thù vẫn cấp bằng đặc thù, gọi nó theo các Luật chuyên ngành quy định nhưng Chính phủ sẽ có một quy định về công nhận giá trị tương đương theo khung trình độ đào tạo quốc gia. Khi đó, cần xác định văn bằng này tương đương với trình độ Thạc sĩ hay Tiến sĩ chẳng hạn thì dựa vào khung đó để xác định. Có nghĩa là trong tương lai cấp bao nhiêu bằng cũng được, tùy trong ngành đặc thù sử dụng tên theo ngành đó. Khi cần đặt ra một phạm vi xã hội, người ta sẽ công nhận giá trị tương đương. Phương án này sẽ giải quyết được cả vấn đề tạo ra được đánh giá chung về cấp độ đào tạo xã hội, đồng thời đáp ứng được yêu cầu đào tạo đặc thù của từng ngành.

Phó TBT Lê Thanh Kim: Thưa PGS. TS Lê Minh Thắng, một trong những điều chỉnh quan trọng của Dự thảo luật lần này là phân định, phân quyền rõ giữa hội đồng trường và Ban giám hiệu nhà trường. Đáng chú ý là quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn của chủ tịch hội đồng trường. Theo bà, điều chỉnh này có ý nghĩa như thế nào đối với các trường tự chủ? Liệu còn vướngmắc điều gì khiến hội đồng trường không thực quyền?

PGS. TS Lê Minh Thắng: Dự thảo Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học đã đưa ra những cơ chế tích cực để làm sao Hội đồng trường thật sự có thực quyền trong hoạt động của Nhà trường. Một trong những điểm đó là quy định rất rõ quyền hạn, trách nhiệm của Hội đồng trường và Hiệu trường. Bên cạnh đó, Luật phân định rất rõ Hội đồng trường là tổ  chức quyết định chiến lược, kế hoạch phát triển, quy chế tổ chức hoạt động, quy chế tài chính, quy chế dân chủ của trường; còn Hiệu trưởng điều hành các hoạt động nhà trường theo chiến lược chính sách chung mà Hội đồng trường quyết định.

Điểm hết sức tích cực nữa đó là Hội đồng trường được quyết định  quy chế tổ chức hoạt động của Nhà trường. Trong quy chế này có quy định rõ ngân sách hoạt động Hội đồng trường là bộ máy tổ chức hoạt động trường bao gồm các tổ chức kiểm soát, các tổ chức thường trực, bộ máy giúp việc cho Hội đồng trường và phân cấp các nhiệm vụ cho Hiệu trưởng. Điều này đã thực sự làm cho Hội đồng trường có bộ máy cũng như ngân sách hoạt động chứ không phụ thuộc vào Hiệu trưởng như trước đây trong Luật năm 2012.

Sự thay đổi cơ cấu thành phần của Hội động trường là một thay đổi tích cực trong Luật này. Có tới tối thiểu 50% thành viên của Hội đồng trường là những thành viên không phải cán bộ quản lý nằm dưới sự điều hành trực tiếp của Hiệu trưởng. Điều này giúp cho tiếng nói của Hội đồng trường độc lập, phản biện, khách quan, dân chủ, trong khi đó Hiệu trưởng chịu trách nhiệm quản lý điều hành Nhà trường theo quy chế tổ chức hoạt động…

Như vậy, tôi cho rằng, những thay đổi này rất tích cực để cho các trường tự chủ tự quyết định sự phát triển quá trình của mình dựa trên cơ sở là theo quyết định từ một tập thể, các thành phần đại diện cho quyền sở hữu, cho các bên liên quan chứ không còn là một số cá nhân nữa. Quyết định này giúp cho Hội đồng trường có tiếng nói thực sự trong hoạt động của nhà trường. Chỉ có như vậy thì quá trình tự chủ mới thực sự đi đúng hướng. Tôi rất mong đợi những quy định của Hội đồng trường trong Dự thảo luật lần này sẽ phát triển mạnh mẽ trong quá trình tự chủ, mặc dù chưa thể hoàn thiện được nhưng có những tác động tích cực, và có những vướng mắc nhưng rất nhỏ trong dự thảo lần này.

Phó TBT Lê Thanh Kim: Một trong những mục tiêu của Dự án Luật lần này đó là tạo môi trường pháp lý bình đẳng giữa ĐH công- tư để có thể cạnh tranh lành mạnh, thưa PGS.TS Nguyễn Thị Nhung, bà đánh giá như thế nào về mục tiêu này, và theo bà Dự án Luật đã hiện thực hóa được mục tiêu này hay chưa?  

PGS.TS Nguyễn Thị Nhung: Thứ nhất, Dự thảo xác định mục tiêu tạo môi trường pháp lý cho các trường đại học cả công và tư. Tôi cho rằng tạo môi trường pháp lý bình đẳng là đều cần thiết cho tất cả các lĩnh vực và lĩnh vực giáo dục cũng không phải ngoại lệ. Các quy định trước đây hầu như có sự phân định rất rõ ràng về cơ sở giáo dục công, giáo dục tư. Nhưng ở Dự thảo lần này, quy định đối với các cơ sở đào tạo trường công hay trường tư đều có một tiêu chí, đặc biệt nhấn mạnh tới những tiêu chí về chuyên môn học thuật.

Có thể khẳng định rằng từ câu chuyện chúng ta tuyển sinh, mở ngành,.. tất cả những câu chuyện đó xoay quanh vấn đề có đảm bảo được tiêu chí về mặt chất lượng hay không? Tiêu chí đó đưa ra để kiểm định, soi chiếu, đánh giá như nhau chứ không có sự phân biệt. Đó là điểm rất mới và cũng là điểm tôi cho rằng sẽ tạo cơ hội cho trường tư thục phát triển tốt, phát huy được hết tiềm năng, nguồn lực của ngành trong giáo dục đại học, thúc đẩy được xã hội hóa về giáo dục. Và đó cũng như một sự sàng lọc tự nhiên. Và những cơ sở giáo dục không đáp ứng được các yêu cầu để đảm bảo chất lượng sẽ phải tự đào thải trong cuộc cạnh tranh hết sức lành mạnh và bình đẳng này. Điều này sẽ đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao, ngày càng khắt khe của thị trường lao động đáp ứng được các kỳ vọng xã hội.

Và để thực hiện được điều này, như các đại biểu trước đã phát biểu, cá nhân tôi cho rằng cần sự đồng bộ, nhất quán trong rất nhiều quy định, đặc biệt là các quy định của Luật chuyên ngành liên quan. Ví dụ: Luật Viên chức, Luật Đầu tư công, Luật Khoa học và Công nghệ... Sau khi sửa đổi luật, chúng ta phải có bước tiếp theo là rà soát và sửa đổi các quy định liên quan của các Luật chuyên ngành và có những quy định liên quan thì mới thật sự tạo được hành lang pháp lý thống nhất và chặt chẽ để thực hiện trên thực tế.


Ảnh: Quang Khánh

Phó TBT Lê Thanh Kim: Có ý kiến cho rằng, hệ thống pháp lý về tự chủ đại học hiện nay vẫn còn tình trạng “mở” ở điều này, luật này nhưng lại “đóng” ở điều khác, luật khác; hoặc là trao quyền tự chủ trên văn bản, nhưng vẫn “trói buộc” trên thực tế do cơ chế không theo kịp thực tiễn. Thưa TS Phạm Tất Thắng để tháo gỡ những nút thắt trong thực hiện tự chủ đại học hiện nay thì các Luật khác cần thay đổi theo hướng như thế nào?

TS Phạm Tất Thắng: Những vấn đề tháo gỡ về cơ chế thì giao cơ bản cho các cơ sở thực hiện tự chủ. Tuy nhiên, do quy định của các luật khác, để các trường đại học tự chủ một cách thực sự, tự chủ một cách mạnh mẽ, tôi cho rằng sau khi QH thông qua luật, mong muốn Chính phủ đề xuất để sửa đổi một số luật khác. Gần đây cũng có một phương pháp mà QH áp dụng, thông qua một luật để sửa một số điều luật có liên quan. Nếu Chính phủ quyết tâm thì có thể làm được.

Một vấn đề nữa đáng quan tâm đó là trong xã hội, tại sao chúng ta lại nhấn mạnh vào tự chủ của cơ sở giáo dục đại học? Bởi, giáo dục đại học là đào tạo cao nhất trong hệ thống giáo dục quốc gia, nó đào tạo ra đội ngũ lao động có trình độ cao nhất, những người sẽ giữ những vị trí quan trọng, chủ chốt về quản lý kinh tế-  xã hội trong tương lai. Và cơ sở giáo dục đại học giữ vị trí rất quan trọng, đó là nơi tạo ra những tri thức mới, do vậy cơ sở giáo dục phải được tự chủ cao. Do vậy, chúng tôi mong muốn, sau khi Luật thông qua, để có thể để các trường tự chủ tốt, thì các nút thắt ở các chính sách khác cần phải được tiếp tục tháo gỡ.

Phó TBT Lê Thanh Kim: Mặc dù được tự chủ, có nghĩa là được trao quyền nhiều hơn khi quyết định các vấn đề về tài chính, nhân sự, học thuật. Tuy nhiên, thực tế có không ít trường ĐH vẫn lo lắng vì sẽ không còn nhận được sự hỗ trợ, đầu tư từ ngân sách nhà nước. Thưa PGS. TS Đặng Quang Việt, thực tế có đáng lo như vậy? Liệu các trường ĐH công lập tự chủ có bị bỏ rơi?

PGS. TS Đặng Quang Việt: Tự chủ - nghĩa là các trường phải tự xây dựng thương hiệu bằng chất lượng, để Nhà nước đủ tin tưởng “đặt cọc”, “đặt hàng” đào tạo. Trong Dự thảo Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Giáo dục đại học không có nội dung nào bỏ rơi các trường công lập tự chủ. Chỉ là cách thức sẽ phân bổ về sau này sẽ có cơ chế đặt hàng để các trường phải cạnh tranh nhau, kể cả công lập và ngoài công lập đều phải thực hiện cơ chế đó. Các trường ngoài công lập nếu đủ điều kiện vẫn được Nhà nước đặt hàng và đầu tư kinh phí như các trường công lập. Tôi nghĩ, sau đây khi luật được thông qua, các trường sẽ phải vượt qua 3 thách thức lớn để có thể nhận được sự hỗ trợ của Nhà nước, kể cả công lập và ngoài công lập:

Thứ nhất, phải đổi mới năng lực quản trị của nhà trường để làm sao tận dụng hiệu quả nhất các nguồn lực (đội ngũ, cơ sở vật chất, tài chính) để vận hành cho hiệu quả.

Thứ hai, giải trình và chịu trách nhiệm trước xã hội, trước các cơ quan quản lý,  trước người học. Ví dụ, trước cơ quan quản lý hiện nay, giao tự chủ rồi, thí điểm 2 - 3 trường và sau đây giao tự chủ đồng loạt theo những nội dung Dự thảo Luật sẽ thông qua. Như vậy, tự chủ không có nghĩa là làm gì thì làm, tự chủ phải theo khuôn khổ của pháp luật, theo các tiêu chí, tiêu chuẩn của Bộ chuyên ngành, phải chịu trách nhiệm giám sát, kiểm tra của Bộ, quản lý của Nhà nước. Hiện nay có tâm lý, nhiều trường được giao tự chủ hơi “run”. Những tiêu chí, tiêu chuẩn trước khi giao tự chủ được Bộ GD - ĐT kiểm soát và cấp phép mã ngành, cấp phép đào tạo trong và ngoài nước, và kiểm tra các tiêu chí, tiêu chuẩn, xong mới cấp phép. Nhưng bây giờ, giao tự chủ nghĩa là các trường được tự làm, song nếu không đúng sẽ  bị “thổi còi”. Đây là một thách thức lớn, đó là giải trình và chịu trách nhiệm trước xã hội, trước cơ quan quản lý Nhà  nước, trước người học.

Thứ ba, phải tự xây dựng thương hiệu. Có thương hiệu thì Nhà nước mới đặt hàng đào tạo, tổ chức nghiên cứu khoa học…

Theo tôi, trong Dự thảo Luật đang định hướng như vậy chứ không phải các trường công được giao tự chủ thì Nhà nước sẽ bỏ rơi.

Ông Phạm Tất Thắng: Liên quan đến vấn đề ông Đặng Quang Việt vừa trao đổi, tôi xin bổ sung thêm ý kiến, ban đầu việc Chính phủ cho 23 trường tự chủ, quan điểm tự chủ gắn với kinh phí, ngân sách. Quan điểm như vậy thì chưa thật sự phù hợp. Tôi cho rằng, tự chủ ở đây là đổi mới cơ chế, phương thức phân bổ ngân sách, chứ tự chủ ở đây không phải tự lo được kinh phí. Vì giáo dục vẫn là lĩnh vực đặc thù, nên việc đầu tư của nhà nước vẫn là quan trọng. Ví dụ như trường ĐH Bách khoa Hà Nội và một số trường kỹ thuật khác cần phải có những phòng thí nghiệm đầu tư hàng triệu đô, nếu chỉ trông chờ vào học phí thì không thể đủ để trang trải và đòi có chất lượng cao được. Những vấn đề này cần được nhà nước giao nhiệm vụ. Hoặc vấn đề đào tạo từ xa, Nhà nước cần thì Nhà nước phải đặt hàng và giao nhiệm vụ. Cơ chế tự chủ gắn với kinh phí, thúc đẩy các cơ sở giáo dục đại học phải năng động hơn, cạnh tranh một cách bình đẳng, dựa vào năng lực thực sự của cơ sở đó.

Phó TBT Lê Thanh Kim: Một trong những điểm được dư luận quan tâm hiện nay đó là nếu các trường thực hiện quyền tự chủ, trong đó có tự chủ tài chính, các trường sẽ được quyền thu học phí cao nhất có thể. Thưa PGS. TS Nguyễn Văn Phúc, điều này có hạn chế cơ hội tiếp cận GDĐH của người nghèo không? Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục Đại học đã có những quy định như thế nào để tránh tình trạng lạm quyền khi thực hiện cơ chế tự chủ, thưa ông?

PGS. TS Nguyễn Văn Phúc: Trong dự thảo Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học lần này, liên quan đến học phí, với các cơ sở giáo dục đại học công lập tự chủ chi thường xuyên 100%, được tự chủ xác định học phí, lý do là khi nhà nước không cấp kinh phí, để bảo đảm chất lượng đào tạo, nhà trường xác định học phí phù hợp. Nhưng dự thảo cũng đặt ra nguyên tắc chung là học phí được xác định dựa trên định mức kinh tế - kỹ thuật, để sau này nhà nước có công cụ giám sát các trường trong việc định ra mức học phí cho hợp lý phù hợp với chất lượng đào tạo, đồng thời nhà trường phải có trách nhiệm công khai minh bạch, giải trình, thông báo cho người học cả năm và cả khóa học, để người học lựa chọn.

Với các cơ sở giáo dục đại học công lập chưa tự chủ chi thường xuyên 100%, việc thu học phí vẫn phải thực hiện theo quy định của Chính phủ, hay nói cách khác là vẫn có mức trần học phí với các cơ sở giáo dục đại học ở những vùng có điều kiện khó khăn, những cơ sở giáo dục đại học ở các ngành, lĩnh vực khó khăn như văn hóa nghệ thuật, nông, lâm, ngư nghiệp...; bảo đảm sự tiếp cận cho con em vùng khó khăn và những ngành không có điều kiện.

Trong dự thảo Luật cũng quy định, các cơ sở giáo dục đại học phải trích phần thu của mình vào quỹ học bổng dành cho sinh viên nghèo có hoàn cảnh khó khăn. Trong thực tế hiện nay đã thực hiện và 23 trường tự chủ đã thực hiện tốt điều này. Các trường tự chủ cũng đã sử dụng toàn bộ lãi suất từ nguồn thu của mình gửi ngân hàng để làm quỹ học bổng. Đồng thời, dự thảo cũng quy định về trách nhiệm của Nhà nước, Nhà nước có chính sách về học bổng, tín dụng cho các em có hoàn cảnh khó khăn hoặc đối tượng sinh viên có nhu cầu, làm sao bảo đảm cho người nghèo, các em có hoàn cảnh khó khăn có thể tiếp cận với giáo dục đại học.

Phó TBT Lê Thanh Kim: Thưa TS Phạm Tất Thắng, dưới góc nhìn của cơ quan lập pháp và giám sát, theo ông Dự thảo Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục Đại học đã thực sự tạo cơ chế và hành lang pháp lý để các trường thực hiện quyền tự chủ?

TS Phạm Tất Thắng: Với dự thảo Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học đang được lấy ý kiến để QH thông qua tới đây, có thể nói điểm mấu chốt được thể hiện rất rõ trong luật đó là tạo hành lang pháp lý, tạo được các cơ chế để các cơ sở giáo dục thực hiện quyền tự chủ một cách mạnh mẽ nhất, rõ ràng nhất. Cụ thể, trong khuôn khổ quy định của pháp luật, những gì có thể đã được giao cho các trường, quyền năng, trách nhiệm rất lớn để thay mặt các cơ quan quản lý để thực hiện chức năng quản lý, quản trị cơ sở của mình. Các ý kiến của các ĐBQH tại phiên thảo luận về Dự thảo Luật đều đánh giá cao, Dự thảo đã được thực hiện công phu, nghiêm túc, có nhiều quan điểm đổi mới.

Trong thực tế, tôi rất mong muốn luật này sớm được thông qua. Thể hiện những quan điểm, chính sách trong luật, đặc biệt là tự chủ trong giáo dục đại học được thể hiện rất rõ... Chúng tôi cho rằng, đây là điểm chú ý của Dự thảo Luật lần này. Chúng tôi mong muốn các vị ĐBQH ủng hộ cao, để luật này sớm được thông qua và đi vào cuộc sống.


Ảnh: Quang Khánh

Phó TBT Lê Thanh Kim: Thưa PGS. TS Nguyễn Văn Phúc, trách nhiệm, vai trò quản lý của nhà nước thể hiện như thế nào trong Luật, khi chúng ta đã cởi trói gần hết cho các trường ĐH?

PGS. TS Nguyễn Văn Phúc: Mục đích tự chủ của các cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục đại học nói chung là phát triển, tạo ra chất lượng, vị thế mới để đáp ứng nhu cầu nhân lực, phát triển khoa học công nghệ cho đất nước trong giai đoạn hội nhập với thế giới. Vai trò quản lý nhà nước chuyển đổi từ tiền kiểm sang hậu kiểm, thực sự là nhà nước kiến tạo. Trước đây quản lý của chúng ta đôi khi ảnh hưởng tới quyền quản trị của nhà trường, thì nay tách bạch quyền quản lý nhà nước với quyền quản trị của nhà trường, làm sao nhà nước thực hiện đúng vai trò quản lý của mình. Sửa đổi của Luật lần này thể hiện rõ tinh thần đó.

Quản lý nhà nước ở đây tập trung vào những khía cạnh lớn, nhà nước phải thực hiện vấn đề chiến lược của giáo dục đại học; quy hoạch, kế hoạch phát triển của giáo dục đại học để thúc đẩy toàn bộ hệ thống phát triển.

Trong quá trình tự chủ, các cơ sở giáo dục đại học được tự chủ cạnh tranh với nhau để phát triển, nhưng làm sao bảo đảm lợi ích của người học, xã hội, phù hợp với mục tiêu chung phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Nhà nước đặt ra chuẩn, quy chuẩn chất lượng để bảo đảm cơ sở giáo dục đại học hoạt động đúng định hướng, chất lượng nâng cao.

Nhà nước tăng cường vai trò kiểm tra, thanh tra, hậu kiểm, quy định làm sao cho các cơ sở giáo dục phải tăng trách nhiệm giải trình với người học, xã hội, nhà nước, với các bên có liên quan để bảo đảm cho phát triển của nhà trường đúng định hướng, mục tiêu.

Trong dự thảo có điểm sẽ xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục đại học. Đây là cách để các cơ sở giáo dục đại học có nghĩa vụ công khai minh bạch, giải trình, bảo đảm cho người học, cho xã hội có thông tin liên quan để lựa chọn chương trình học tốt nhất, phù hợp với nhu cầu, điều kiện của mình, bảo đảm làm sao hệ thống phát triển, có chất lượng cao hơn, bảo đảm các cơ sở giáo dục tự chủ nhưng nhà nước vẫn quản lý, bảo đảm lợi ích của người học, của xã hội, lợi ích chung của đất nước.

Phó TBT Lê Thanh Kim: Thưa quý vị và các bạn!

Có thể nói, nhiều vấn đề “điểm nghẽn” về tự chủ đại học đã được giải quyết trong Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học. Tuy nhiên, cũng phải thẳng thắn nói rằng, sẽ rất khó để giải quyết triệt để, toàn diện mọi vướng mắc, bất cập trong tự chủ đại học. Bởi lẽ, chỉ giải quyết những bất cập xuất phát từ quy định của Luật GDĐH là chưa đủ, vì có những bất cập phát sinh từ quy định của các luật có liên quan và đặc biệt là cơ chế thi hành pháp luật. Vì thế, rất cần sự đồng bộ từ hệ thống quy định pháp luật tới cơ chế thi hành pháp luật mới giải quyết được triệt để những hạn chế, vướng mắc trong tự chủ đại học. Có như vậy, chúng ta hy vọng GDĐH có cơ hội phát triển tiệm cận với thông lệ quốc tế, vươn lên trong hội nhập khu vực và quốc tế.

Một lần nữa, trân trọng cảm ơn các vị khách quý đã tham gia Tọa đàm ngày hôm nay và mong được gặp lại trong lần đối thoại lần sau.

Xin trân trọng cảm ơn!

------------------------------------

* Bản quyền thuộc về Báo Đại biểu Nhân dân. Mọi hình thức sao chép đều phải dẫn nguồn.

ĐBND
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang