VĂN HÓA - GIÁO DỤC
Cập nhật 15:34 | 14/12/2018 (GMT+7)
.
5 năm triển khai Nghị quyết 29 về giáo dục phổ thông

Giáo dục mũi nhọn đạt nhiều thành tích cao

08:00 | 20/10/2018
Sau 5 năm triển khai Nghị quyết 29, kết quả của học sinh Việt Nam tại các kỳ thi Olympic khu vực và thế giới, thi khoa học kỹ thuật quốc tế luôn đạt năm sau cao hơn năm trước và đỉnh cao là vào năm 2017, 2018, nhiều đội tuyển lập thành tích cao. Báo Đại biểu Nhân dân đã trao đổi với Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục Trung học, Bộ GD - ĐT NGUYỀN XUÂN THÀNH về những kết quả đạt được của giáo dục phổ thông sau 5 năm thực hiện Nghị quyết 29.

100% học sinh đoạt huy chương

-Thưa ông, kết quả tại các kỳ thi Olympic khu vực và thế giới, thi khoa học kỹ thuật quốc tế  khẳng định điều gì về giáo dục phổ thông?

- Tại các kỳ thi Olympic khu vực và thế giới, thi khoa học kỹ thuật quốc tế, đoàn học sinh Việt Nam tham dự các kỳ thi Olympic quốc tế các môn Toán, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Tin học luôn đạt mức cao, hầu hết các môn có 100% học sinh đoạt huy chương, số học sinh đoạt huy chương vàng tăng. Giai đoạn 5 năm từ 2009 - 2013 tổng số 160 lượt học sinh tham dự đoạt 150 giải khu vực và quốc tế gồm 21 huy chương vàng, 56 huy chương bạc, 58 huy chương đồng và 15 bằng khen.

Giai đoạn 5 năm thực hiện Nghị quyết 29 số giải đạt nhiều hơn giai đoạn trước là 37 giải; số huy chương vàng tăng gấp 3 lần: Trong 5 năm từ 2014 - 2018 tổng số 191 lượt học sinh tham dự đoạt 187 giải khu vực và quốc tế gồm 60 huy chương vàng: 78 huy chương bạc; 40 huy chương đồng; 9 bằng khen. Đặc biệt, từ năm 2012 đến nay, hàng năm có 8 dự án dự thi Cuộc thi khoa học, kỹ thuật quốc tế... Như vậy, 6 năm liền, Việt Nam là một trong số 50 quốc gia trong tổng số gần 80 nước tham gia có dự án đoạt giải. Từ kết quả tại các kỳ thi Olympic khu vực và thế giới, thi khoa học kỹ thuật quốc tế, khẳng định, giáo dục mũi nhọn đạt được nhiều thành tựu quan trọng sau 5 năm triển khai Nghị quyết 29.


Cuộc thi khoa học kỹ thuật dành cho học sinh trung học nhiều năm qua đã giúp các em vừa nâng cao được năng lực thực hành và làm quen với thiết bị thí nghiệm trong các bài thi quốc tế 

- Cụ thể, yếu tố quan trọng để có thành công tại các kỳ thi Olympic khu vực và thế giới, thi khoa học kỹ thuật quốc tế là gì, thưa ông?

- Yếu tố quan trọng để có thành công tại các kỳ thi Olympic khu vực và thế giới, thi khoa học kỹ thuật quốc tế trước hết là do chất lượng giáo dục phổ thông đại trà đã được nâng lên, để trên nền đó, chất lượng giáo dục mũi nhọn có bước tiến vượt bậc. Trong những năm qua, bên cạnh việc tập trung nâng cao chất lượng dạy học nói chung, chúng ta đã tập trung đẩy mạnh về dạy học ngoại ngữ, nhất là tiếng Anh, cùng với việc triển khai dạy học Toán và các môn khoa học bằng tiếng Anh trong các trường trung học phổ thông chuyên. Từ đó học sinh đã có đủ năng lực để tự học, tự nghiên cứu không phải chỉ qua các tài liệu tiếng Việt mà đã có thể chủ động tiếp cận với nguồn tài liệu bằng tiếng Anh, qua đó tiếp cận với trình độ giáo dục tiến tiến trên thế giới.

Một điều quan trọng nữa là thiết bị thí nghiệm trong các trường chuyên vừa qua đã được quan tâm đầu tư có trọng điểm; học sinh của chúng ta đã có điều kiện tiếp cận sớm với các thiết bị thí nghiệm ngang tầm quốc tế, qua đó các em vừa nâng cao được năng lực thực hành, vừa không “lạ lẫm” với các thiết bị thí nghiệm trong các bài thi quốc tế. Nhờ thế mà thành tích của các em đã không ngừng tăng lên trong những năm vừa qua, khi mà đã khắc phục được hạn chế trong các phần thi thực hành trước đây.

Thành tựu từ đổi mới phương pháp học và đánh giá

- Một trong những yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông theo Nghị quyết 29 là tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh, 5 năm qua chúng ta đã làm được những gì so với yêu cầu này, thưa ông?

- Nhiều năm qua, các nhà trường đã đổi mới phương pháp dạy học trong các môn học theo hướng chú trọng rèn luyện cho học sinh phương pháp tự học, tự nghiên cứu sách giáo khoa để tiếp nhận và vận dụng kiến thức mới thông qua giải quyết nhiệm vụ học tập đặt ra trong bài học; dành nhiều thời gian trên lớp cho học sinh luyện tập, thực hành, trình bày, thảo luận, bảo vệ kết quả học tập của mình; giáo viên tổng hợp, nhận xét, đánh giá, kết luận để học sinh tiếp nhận và vận dụng. Các hoạt động trải nghiệm sáng tạo được triển khai rộng rãi giúp tăng cường các hoạt động giáo dục đạo đức, giáo dục các kỹ năng mềm, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện... (Nghị quyết 29). Hoạt động giáo dục nhà trường gắn với di sản, gắn với sản xuất - kinh doanh - dịch vụ ở địa phương giúp tăng cường năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn (Nghị quyết 29).

Cùng với đó, một trong những minh chứng cho đổi mới hình thức dạy học rõ nét nhất là hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh trong 6 năm qua đã được lan tỏa rộng rãi và có chất lượng tốt: hàng chục ngàn dự án khoa học, kỹ thuật của học sinh trung học được thực hiện hàng năm ở các nhà trường; hơn 5.000 dự án dự thi Cuộc thi khoa học kỹ thuật cấp tỉnh hàng năm; gần 500 dự án dự thi Cuộc thi khoa học, kỹ thuật cấp quốc gia hằng năm; góp phần phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời (Nghị quyết 29).

- Nhiều ý kiến cho rằng, những tồn tại, hạn chế của giáo dục phổ thông là việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả còn lạc hậu, thiếu thực chất. Vậy, 5 năm qua giáo dục phổ thông đã có những thay đổi gì để khắc phục tồn tại, hạn chế nêu trên?

- Đổi mới kiểm tra, đánh giá được xác định là khâu đột phá trong đổi mới giáo dục vì nó có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh trở lại quá trình dạy và học. Vì vậy, Bộ GD - ĐT đã chỉ đạo nhà trường, giáo viên xây dựng kế hoạch kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh phù hợp với kế hoạch giáo dục từng môn học, hoạt động giáo dục theo định hướng phát triển năng lực, phẩm chất của học sinh.

Đến nay, việc kiểm tra, đánh giá những nội dung, bài tập, câu hỏi vượt quá mức độ cần đạt về kiến thức, kỹ năng của chương trình giáo dục phổ thông hiện hành đã cơ bản được khắc phục; giáo viên đã thực hiện khá tốt việc đánh giá thường xuyên đối với tất cả học sinh bằng các hình thức khác nhau: Đánh giá qua việc quan sát các hoạt động trên lớp; đánh giá qua hồ sơ học tập, vở hoặc sản phẩm học tập; đánh giá qua việc học sinh báo cáo kết quả thực hiện một dự án học tập, nghiên cứu khoa học kỹ thuật, báo cáo kết quả thực hành, thí nghiệm; đánh giá qua bài thuyết trình về kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập.

- Xin cảm ơn ông!

Khải Minh ghi
Xem tin theo ngày:
GIÁO DỤC
07:55 22/10/2018
Trong khuôn khổ chương trình Nghiên cứu trọng điểm về khoa học giáo dục, nhóm nghiên cứu của Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) đã khảo sát xã hội học hơn 4.000 người liên quan về những chuyển biến trong giáo dục và đào tạo. Nhóm đã thực hiện phân tích và đối sánh với dữ liệu nền năm 2013 ở những chỉ số tương ứng, hoặc với mục tiêu chính sách và thấy rằng, đã có chuyển dịch tích cực thực sự trong giáo dục Việt Nam.
Quay trở lại đầu trang