QUỐC TẾ
Cập nhật 12:22 | 20/01/2020 (GMT+7)
.
Kinh nghiệm quốc tế về chế định hòa giải tại tòa án

Khuyến khích lựa chọn hòa giải

08:33 | 08/12/2019
Kinh nghiệm ở nhiều quốc gia cho thấy, hiệu quả trong công tác hòa giải tại tòa án là nhờ khung pháp lý bảo đảm được quyền tự do định đoạt của đương sự trong giải quyết tranh chấp; các quy định khích lệ người dân lựa chọn hòa giải để giải quyết.

Bảo đảm quyền định đoạt của đương sự

Khung pháp lý về hòa giải của nhiều quốc gia đều bảo đảm các bên đương sự có quyền hợp pháp để giải quyết tranh chấp dân sự và thương mại theo sự tự nguyện của chính họ. Các thỏa thuận giải quyết là sự phản ánh chân thực cách các bên thống nhất xử lý tranh chấp dân sự hoặc thương mại theo sự tự nguyện của họ. Bên cạnh đó, các quy định pháp luật về hòa giải tại tòa án của nhiều nước cũng bảo đảm chất lượng hòa giải viên, tính trung lập, nhanh chóng, thân thiện của hoạt động hòa giải tại tòa án.

Quy định pháp luật về hòa giải tại các quốc gia trên thế giới như Indonesia, Thái Lan, Singapore, Malaysia, Canada, Áo, Bỉ, Cộng hòa Séc, Luxembourg, Hà Lan, Pháp... đều có những điểm chung sau: Thứ nhất, đề cao giải quyết tranh chấp bằng hòa giải, có chính sách tài chính hỗ trợ, khuyến khích lựa chọn hòa giải để giải quyết tranh chấp; việc xét xử theo thủ tục tố tụng là lựa chọn sau cùng. Thứ hai, các mô hình hòa giải đều gắn kết với tòa án, có quy định về vai trò, trách nhiệm của tòa án, có sự tham gia của các thẩm phán. Thứ ba, có sử dụng nguồn nhân lực ngoài tòa án là các thẩm phán, công tố viên đã nghỉ hưu làm hòa giải viên. Thứ tư, thành lập các trung tâm hòa giải tại tòa án hoặc bên cạnh tòa án. Thứ năm, thỏa thuận hòa giải có hiệu lực thi hành như bản án, quyết định của tòa án.

Tùy từng quốc gia, mô hình hòa giải cũng có sự khác nhau. Ví dụ, về tổ chức, có quốc gia quy định việc hòa giải do các thẩm phán trực tiếp thực hiện; có quốc gia quy định việc hòa giải do các thẩm phán kết hợp với nguồn nhân lực ngoài tòa án thực hiện.

Về quy trình, có quốc gia quy định hòa giải là quy trình bắt buộc trước khi tòa án thụ lý, xét xử; có quốc gia quy định theo nguyên tắc tự nguyện (tổ chức, cá nhân có quyền lựa chọn phương thức hòa giải hoặc quy trình tố tụng tại Tòa án).

Về hiệu quả, việc áp dụng chế định hòa giải tại tòa án với phương châm “đôi bên cùng thắng” không những là công cụ hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác hòa giải mà còn góp phần đẩy nhanh quá trình giải quyết tranh chấp, khắc phục tình trạng tồn đọng án; thúc đẩy các mối quan hệ kinh tế - xã hội phát triển, giảm chi phí cho xã hội. Nhiều diễn đàn tư pháp quốc tế đã khuyến nghị áp dụng chế định hòa giải tại tòa án như một công cụ hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả, hiệu suất hoạt động của tòa án.

Mức phí mang tính khích lệ

Về kinh phí, ở một số quốc gia như Pháp, Đức, Indonesia, Thái Lan... các bên đương sự không phải chịu chi phí hòa giải. Ở một số quốc gia khác như Anh, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, Canada, Philippines... chi phí hòa giải do các bên đương sự chi trả nhưng với mức thu thấp hơn nhiều so với mức án phí theo thủ tục tố tụng thông thường.

Tại Singapore, mô hình hòa giải tại tòa án được thí điểm với các thẩm phán tòa án quận với tư cách hòa giải viên vào năm 1995. Ban đầu, phương thức hòa giải tại tòa án miễn phí cho các đương sự. Đến tháng 5.2015, Singapore đưa ra lệ phí hòa giải tại toà án ở mức 250 đô la Singapore đối với mỗi bên cho phiên hòa giải tại tòa án quận. Đây là số tiền nhỏ so với chi phí giải quyết các tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền của tòa án cấp quận, vốn giao động từ 60.000 - 250.000 đô la Singapore.

Một nghiên cứu năm 2007 của Văn phòng Kiểm toán Quốc gia Vương quốc Anh đã thu thập dữ liệu thống kê cho các tranh chấp gia đình trong các năm 2004 - 2006. Theo nghiên cứu, chi phí hòa giải trung bình là 752 bảng Anh, trong khi đó, việc giải quyết các vụ kiện tại tòa án tốn gấp hai lần với 1.682 bảng Anh. Ngoài ra, các hòa giải trong nghiên cứu được giải quyết nhanh hơn so với thủ tục tố tụng tại tòa án. Các phiên hòa giải cần trung bình 110 ngày, trong khi quá trình tố tụng tại tòa kéo dài trung bình là 435 ngày.

Tại Ireland, Luật Hòa giải năm 2017 quy định rõ về phí và chi phí hòa giải. Cụ thể, trừ khi có lệnh của tòa án hoặc có thỏa thuận khác giữa các bên, các bên sẽ trả cho hòa giải viên các khoản phí và chi phí đã thỏa thuận trong thỏa thuận hòa giải, hoặc chia sẻ đồng đều các khoản phí và chi phí của phiên hòa giải. Lệ phí và chi phí của hòa giải phải hợp lý và tương xứng với tầm quan trọng và mức độ phức tạp của các vấn đề đang bị đe dọa và với số lượng công việc được thực hiện bởi hòa giải viên.

Tại Australia, một khoản phí khiêm tốn áp dụng cho hòa giải khi được cán bộ tư pháp tiến hành và thường được người nộp đơn thanh toán, trừ khi có lệnh khác. Trong một số trường hợp, lệ phí có thể được miễn hoặc hoãn lại. Ngoài ra, các bên thường phải chịu các chi phí pháp lý của luật sư riêng chuẩn bị và tham dự phiên hòa giải.

Nhìn chung, mặc dù hòa giải viên có thể tính một khoản phí tương đương với luật sư, song quá trình hòa giải thường mất ít thời gian hơn so với việc chuyển vụ án qua các kênh pháp lý tiêu chuẩn. Trong khi một vụ án nằm trong tay luật sư hoặc tòa án có thể mất nhiều tháng hoặc nhiều năm để giải quyết, hòa giải thường đạt được giải pháp chỉ trong vài giờ. Mất ít thời gian hơn có nghĩa là tiêu tốn ít tiền hơn cho phí và chi phí hàng giờ.

Ngọc Khánh
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang