QUỐC TẾ
Cập nhật 08:05 | 20/07/2019 (GMT+7)
.
Nghị quyết của nghị viện

Nghị quyết của Quốc hội Mỹ: Tính pháp lý đa dạng

07:30 | 13/01/2019
Ngoài các dự luật và điều ước quốc tế, Quốc hội Mỹ còn xét và thông qua các nghị quyết. Có một số loại nghị quyết sau đây: Nghị quyết chung (joint resolution); Nghị quyết liên đới (concurrent resolution) và nghị quyết đơn giản (simple resolution). Vậy những nghị quyết này có được coi là văn bản quy phạm pháp luật?

Nghị quyết chung có ý nghĩa như một đạo luật

Về tính chất và hiệu lực pháp lý, nghị quyết chung tương tự như đạo luật, tức là được coi là một văn bản quy phạm pháp luật. Về quy trình ban hành, nghị quyết chung phải được thông qua bởi cả Thượng nghị viện và Hạ nghị viện theo một thể thức xác định. Sau đó, được chuyển tới Tổng thống để ký phê chuẩn.

Mặc dù không có điều luật quy định về việc văn bản quy phạm pháp luật được đệ trình trước Nghị viện phải được soạn thảo dưới dạng dự luật hay nghị quyết chung, nhưng có những “tập quán” nhất định cần phải tuân thủ khi sử dụng hai loại văn bản này. Sự khác biệt giữa nghị quyết chung và các đạo luật thể hiện chủ yếu ở các trường hợp mà chúng được sử dụng, nói cách khác, hai loại văn bản này được sử dụng với những công dụng khác nhau. Các dự luật thường được được sử dụng để ban hành mới, bổ sung, sửa đổi các văn bản luật đã được hệ thống trong Bộ luật lệ của Mỹ và luật ngân sách hàng năm. Còn các nghị quyết chung thường được sử dụng cho các mục đích sau:

Thứ nhất, khi Nghị viện cần thông qua văn bản để giải quyết những vấn đề bị giới hạn hoặc những vấn đề tạm thời. Chẳng hạn, nghị quyết được dùng như là một công cụ pháp lý tạm thời để tuyên bố về sự phân bổ ngân sách tiếp tục cho các chương trình của Chính phủ liên bang khi dự luật phân bổ ngân sách hàng năm chưa được ban hành. Những nghị quyết chung này được gọi là nghị quyết tiếp tục (continuing resolution).

Thứ hai, nghị quyết chung cũng thường được dùng để giải quyết những vấn đề đơn lẻ quan trọng. Từ năm 1955 đến năm 1991, đã có 6 lần Nghị viện thông qua nghị quyết chung trao quyền hoặc phê chuẩn đề nghị của Tổng thống về việc sử dụng quân đội Mỹ để bảo vệ những quốc gia cụ thể. Hai nghị quyết hết sức quan trọng trong số những nghị quyết này đó là Nghị quyết vịnh Bắc Bộ năm 1964 (78 Stat.384) và Nghị quyết về vùng Vịnh năm 1991 (105 Stat.3) đã được sử dụng để phê chuẩn sự tham chiến của Mỹ. Hoặc sau sự kiện 11.9, Quốc hội Mỹ đã thông qua nghị quết chung cho phép sử dụng quân đội chống lại những đối tượng gây ra vụ tấn công khủng bố nhằm vào nước Mỹ. Những nghị quyết này sẽ trở thành luật sau khi được hai viện thông qua và Tổng thống ký ban hành.

Thứ ba, nghị quyết chung được dùng để đề xuất tu chỉnh cho Hiến pháp Mỹ. Đây có thể được coi là vai trò vô cùng quan trọng của nghị quyết chung. Các nghị quyết này phải được thông qua bởi 2/3 nghị sĩ tại cả Thượng viện và Hạ viện. Điểm đáng lưu ý là, không giống như các nghị quyết chung khác, nghị quyết đề xuất sửa đổi Hiến pháp không cần phải có chữ ký của Tổng thống, nhưng để có hiệu lực pháp lý, phải được phê chuẩn bởi 3/4 số bang trong liên bang.

Thứ tư, nghị quyết chung còn được sử dụng để xác định những ngày kỷ niệm lớn. Chẳng hạn trong số 99 nghị quyết chung đã có hiệu lực pháp lý của Quốc hội thứ 103 (từ 1993 đến 1995) có tới 83 nghị quyết về vấn đề này.

Thứ năm, nghị quyết chung được sử dụng để thành lập các ủy ban tạm thời hoặc các ủy ban khác.

Thứ sáu, nghị quyết chung cũng được sử dụng để tuyên bố về các bang độc lập (chẳng hạn Nghị quyết đối với bang Texas và bang Hawaii).

Nghị quyết chung được nhận dạng bằng những cách ký hiệu như: H.J.Res. (House Joint Resolution) hoặc S.J.Res. (Senate Joint Resolution) và tiếp theo sau đó là những con số.

Nghị quyết nội bộ của mỗi viện

Bên cạnh nghị quyết chung của cả hai viện, có hai loại nghị quyết nội bộ là nghị quyết liên đới và nghị quyết giản đơn. Về tính chất và hiệu lực pháp lý, hai loại nghị quyết này không phải là một đạo luật và cũng không có giá trị như một đạo luật, mà chỉ là những biện pháp mà cả Thượng viện và Hạ viện thống nhất về các vấn đề liên quan tới tổ chức và thủ tục hoạt động của họ, hoặc là sự thể hiện ý kiến về các sự kiện, nguyên tắc, quan điểm và mục đích hoạt động của hai Viện. Theo quy định tại Khoản 7 Điều 1 Hiến pháp Mỹ, nghị quyết này quy định về các vấn đề đặc thù trong nội bộ Quốc hội và không có hiệu lực ràng buộc mang tính quy phạm pháp luật. Chẳng hạn một nghị quyết liên đới có thể được đệ trình để đề xuất thành lập một ủy ban chung, một phiên họp chung, yêu cầu nghị viện tạm ngừng họp trên 3 ngày. Nghị quyết liên đới đôi khi cũng được sử dụng để bày tỏ chính kiến, quan điểm của nghị viện về một vấn đề quốc tế, chẳng hạn nghị quyết 1962 về Berlin… Còn nghị quyết giản đơn thường ược sử dụng để đưa ra những quy định về trật tự, bầu các thành viên ủy ban, thành lập các ủy ban đặc biệt chẳng hạn như các ủy ban điều tra…

Về quy trình ban hành, khác với nghị quyết chung, nghị quyết liên đới không cần phải chuyển cho Tổng thống và không cần sự phê chuẩn của Tổng thống.

Đạt Quốc
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang