QUỐC TẾ
Cập nhật 16:49 | 20/07/2019 (GMT+7)
.
Nghị quyết của nghị viện

Pháp: Nghị quyết nhìn từ Hiến pháp sửa đổi 2008

07:30 | 13/01/2019
Hiến pháp sửa đổi được Nghị viện Pháp thông qua tháng 7.2008 được đánh giá là một trong những kế hoạch cải tổ thể chế cách mạng nhất trong vòng 50 năm - thời điểm bắt đầu của nền Cộng hòa đệ Ngũ. Nếu Hiến pháp 1958 đánh dấu thay đổi bước ngoặt trong cơ cấu quyền lực theo hướng nghiêng về Chính phủ, thì dự thảo Hiến pháp sửa đổi 2008 hứa hẹn mở ra một giai đoạn mới, mà ở đó quyền lực giữa cơ quan hành pháp và lập pháp được cân bằng. Nghị quyết của Nghị viện, nhờ đó cũng được tăng cường quyền lực theo hướng này.

Quyền lực thăng trầm

Cùng với các lần sửa đổi Hiến pháp và sự thay đổi của của các nền Cộng hòa, Nghị quyết của nghị viện cũng có một số phận khá “thăng trầm”.

Dưới nền Cộng hòa Đệ tam và Đệ ngũ, vào thời kỳ đó, Quốc hội được trao quá nhiều quyền lực, và nghị quyết của nghị viện thường xuyên được sử dụng để buộc Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội, dẫn đến tình trạng mỗi năm có tới một hoặc hai Chính phủ sụp đổ do Quốc hội bỏ phiếu bất tín nhiệm.

Điều đó đã đưa đến việc sửa đổi Hiến pháp năm 1958 với sự ra đời của nền Cộng hòa Đệ ngũ. Mục tiêu của các nhà soạn thảo Hiến pháp năm 1958 là cân bằng quyền lực giữa cơ quan lập pháp và hành pháp trên cơ sở duy trì truyền thống cộng hòa và truyền thống nghị viện, từ đó bảo đảm một sự ổn định tương đối cho các Chính phủ. Thế nhưng, mục tiêu này cuối cùng lại dẫn đến tình trạng cán cân quyền lực nghiêng nhiều hơn về phía hành pháp. Đặc biệt kể từ năm 1962, khi Tổng thống được bầu phổ thông đầu phiếu trực tiếp thay vì do Nghị viện bầu, quyền lực của cơ quan hành pháp càng được củng cố. Những quy định mới về quy trình lập pháp cũng cho phép các chính phủ dễ dàng hơn trong việc thông qua các đạo luật mà trước đó phải qua thủ tục đa số 2 vòng tại Nghị viện. Ngoài ra, Hiến pháp năm 1958 đã đặt ra một loạt các điều khoản nhằm hạn chế việc Nghị viện có thể gây sức ép quá lớn lên Chính phủ và thậm chí là lật đổ chính phủ. Chẳng hạn như các nhà lập Hiến khi đó đã muốn đoạn tuyệt với chính thể đại nghị trước đó, đã nghiêm cấm Nghị viện sử dụng Nghị quyết để lật đổ chính phủ. Điều này dẫn đến vai trò giám sát của Nghị viện  đối với cơ quan hành pháp trong nền Cộng hòa Đệ ngũ trở nên yếu hơn so với thời kỳ trước đó.

Phải thừa nhận rằng, những điều chỉnh trong Hiến pháp 1958 đã phần nào giúp quốc gia hình lục lăng có được một nền chính trị tương đối ổn định trong suốt nửa thế kỷ. Song, tình trạng mất cân bằng giữa các cơ quan quyền lực là một lực cản trong quá trình hướng tới dân chủ.

Từ lần sửa đổi Hiến pháp năm 1992, nghị quyết của nghị viện đã được trở lại với một phần quyền lực vốn có. Theo đó, các nhà lập pháp có thể sử dụng nghị quyết để bày tỏ ý kiến về một dự thảo luật hay một đạo luật của Liên minh châu Âu. Nhưng phải đợi đến Hiến pháp sửa đổi năm 2008, với mục tiêu bảo đảm cơ chế cân bằng, kiềm chế và đối trọng giữa cơ quan hành pháp và lập pháp, nghị quyết của nghị viện mới được khôi phục quyền lực ban đầu.

Theo Hiến pháp sửa đổi tháng 7.2008, Điều 34-1 quy định “Quốc hội có thể thông qua nghị quyết để bày tỏ ý kiến về một vấn đề trong những giới hạn nhất định. Dự thảo nghị quyết có thể được đề xuất bởi một hoặc nhiều Hạ nghị sĩ hoặc Thượng nghị sĩ, chủ tịch các nhóm đảng thuộc cả phe đa số lẫn thiểu số”.

Tuy nhiên, những quy định liên quan đến nghị quyết của nghị viện vẫn bị hạn chế nhằm bảo đảm tính cân bằng quyền lực theo tinh thần của nền Cộng hòa Đệ ngũ, theo đó, tất cả những dự thảo nghị quyết mà chính phủ nhận thấy việc thông qua hay bác bỏ nó đặt ra vấn đề đối với trách nhiệm của chính phủ sẽ không được đưa vào chương trình nghị sự.

Bên cạnh đó, các nhà lập pháp cũng không được phép thông qua nghị quyết mà không báo trước với Chính phủ. Thủ tướng sẽ được thông báo về toàn bộ nội dung nghị quyết ít nhất 48 tiếng trước khi nó được đưa vào chương trình họp của Nghị viện, một thời hạn cho phép Chính phủ kiểm soát nội dung của văn bản này.

Công cụ bày tỏ chính kiến của Nghị viện

Giống như kiến nghị (motion), nghị quyết (resolution) là loại văn bản không chứa đựng quy phạm pháp luật và không mang tính chất bắt buộc, được thông qua bởi một cuộc họp của mỗi viện, hoặc bởi cả hai cùng nhau. Phạm vi sử dụng nghị quyết nghị viện do Chủ tịch Thượng viện, Chủ tịch Hạ viện và Hội đồng Bảo hiến quy định.

Nghị quyết thường được sử dụng như một cách để Nghị viện Pháp bày tỏ ý kiến về một vấn đề cụ thể, đưa ra một mong muốn hoặc một khuyến nghị hoặc để bổ sung hoặc làm rõ hơn một đạo luật nào đó quá phức tạp. “Nghị quyết là một tuyên bố về mặt tuyên tắc” - Chủ tịch Hạ viện Pháp Bernard Accoyer kết luận. “Nghị quyết là để giải thích, còn luật là để hành động”.

Ngoài ra, theo Quyết định 59-2 và 59-3 ngày 17.6.1959, nghị quyết của Nghị viện còn được dùng trong các trường hợp sau đây: Đề xuất sửa đổi các cuộc họp quyết nghị; đề nghị thành lập một ủy ban điều tra; đề xuất về việc cho ở lại hoặc đình chỉ tạm giam một nghị sĩ; nghị quyết đề nghị về luận tội Tổng thống Cộng hòa trước Tòa án Tối cao; nghị quyết đề xuất các văn bản của Liên minh châu Âu (EU) trước Quốc hội theo Điều 88-4 của Hiến pháp.

Bên cạnh đó, Nghị quyết của Quốc hội đôi khi cũng được sử dụng (nhưng rất hạn chế), để giải thích việc đệ trình các dự luật không chứa đựng quy phạm pháp luật, chẳng hạn như đề nghị liên quan đến việc công nhận sự diệt chủng của người Armenia năm 1915 hoặc vài dự luật công nhận chế độ nô lệ và buôn bán người là loại tội ác chống lại nhân loại.

Quỳnh Vũ
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang