QUỐC TẾ
Cập nhật 15:19 | 21/11/2018 (GMT+7)
.
Pháp luật về tố cáo trên thế giới

Công cụ chống tham nhũng

09:25 | 10/06/2018
Tố cáo là một trong những công cụ hữu hiệu nhất để phơi bày và khắc phục hành vi tham nhũng, vi phạm pháp luật và các hành vi tiêu cực khác. Trên thế giới, pháp luật về tố cáo dù có nhiều tên gọi khác nhau, nhưng luôn quy định bảo vệ người tố cáo, trình tự giải quyết tố cáo... Việc bảo vệ an toàn cho người tố cáo thiện ý, trung thực là không thể thiếu trong nỗ lực chống tham nhũng, thúc đẩy sự liêm chính, trách nhiệm giải trình và hỗ trợ môi trường kinh doanh trong sạch.

Nhiều tên gọi khác nhau

Bảo vệ người tố cáo có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nhằm khuyến khích mọi người tham gia phát giác hành vi sai trái, gian lận gây tổn hại tới lợi ích công. Nguy cơ tham nhũng sẽ gia tăng đáng kể nếu việc tố cáo những hành vi này không được ủng hộ hoặc bảo vệ. Điều này áp dụng với cả môi trường công và tư, nhất là trong các trường hợp hối lộ.

Quy định về bảo vệ người tố cáo được thể hiện rõ trong các Công ước quốc tế, châu lục về chống tham nhũng như: Công ước Chống tham nhũng của Liên Hợp Quốc (UNCAC); Công ước Chống tham nhũng của Tổ chức các nước châu Mỹ; Công ước Luật Dân sự về chống tham nhũng và Công ước Luật Hình sự về chống tham nhũng của Hội đồng châu Âu; Công ước Phòng và chống tham nhũng của Liên minh châu Phi; Nghị định thư của các nước Nam Phi (SADC)…

Xuất phát từ đòi hỏi thực tiễn của từng nước và yêu cầu của các văn kiện nêu trên, khoảng 30 quốc gia đã thông qua luật về tố cáo dưới nhiều hình thức, tên gọi, với các biện pháp bảo vệ người tố cáo có giới hạn ở những lĩnh vực khác nhau như: Luật Bảo vệ người tố cáo năm 1989 của Mỹ; Luật Tiết lộ vì lợi ích công năm 1998 của Anh; Luật Bảo vệ người tố cáo năm 2004 của Nhật Bản: Luật Bảo vệ người tố cáo năm 2004 của Romania; Luật Bảo vệ người tố cáo năm 2011 của Ấn Độ; Luật Bảo vệ tố cáo lợi ích công năm 2011 của Hàn Quốc… Ở một số nước, có thể tìm thấy trong các đạo luật chuyên ngành về tố cáo như: Bộ luật Hình sự của Đức, Canada, Mexico, Trung Quốc, Hungaria…; Bộ luật Lao động của Pháp, Cộng hòa Séc, Ba Lan, Látvia… hay Luật Phòng, chống tham nhũng của Brazil, Hàn Quốc…

Quy định trong các văn bản pháp luật của từng quốc gia và yêu cầu trong các văn kiện pháp lý quốc tế tạo nền tảng pháp lý hay khuôn khổ pháp luật về bảo vệ người tố cáo, bao gồm các quyền của người tố cáo; thể chế thực thi của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc bảo đảm quyền được bảo vệ, quyền được khôi phục hoặc bồi thường cho người tố cáo…


Quy định rõ phạm vi được bảo vệ

Luật về tố cáo và bảo vệ người tố cáo trên thế giới quy định rõ phạm vi được bảo vệ của người tố cáo. Cụ thể, pháp luật bảo vệ người tố cáo ở một số nước chủ yếu hướng tới bảo vệ người tố cáo trong khu vực công, không mở rộng bảo vệ người lao động trong khu vực tư như Canada, Nga, Thụy Sĩ hoặc bảo vệ người tố cáo vì lợi ích công như Hàn Quốc.

Một số nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Nam Phi, Anh đã ban hành luật riêng về bảo vệ người tố cáo toàn diện cho cả khu vực công và khu vực tư. Ví dụ, Luật Bảo vệ người tố cáo vì lợi ích công (PPIW) của Hàn Quốc áp dụng cho bất kỳ người nào tố cáo hành vi vi phạm lợi ích công cộng. Trong khi đó, Luật Bảo vệ người tố cáo của Mỹ được ban hành năm 1989, và sau đó được bổ sung bởi các quy định bảo vệ người tố cáo trong Luật Sarbanes-Oxley (Luật SOX) và Luật Bảo vệ Người tiêu dùng và cải cách phố Wall Dodd-Frank (Luật Dodd-Frank) chủ yếu hướng tới khu vực tư nhân.

Về nội dung tố cáo, Công ước Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng đề cập đến phạm vi đối tượng có thể bị tố cáo là tất cả vụ việc liên quan đến các hành vi phạm tội theo quy định của Công ước. Các Công ước về chống tham nhũng của châu lục hoặc đạo luật chống tham nhũng của các quốc gia thường tập trung vào hành vi phạm tội tham nhũng.

Pháp luật một số nước đưa ra định nghĩa rõ ràng về phạm vi tiết lộ được sự bảo vệ. Ví dụ, Luật Tiết lộ lợi ích công 1998 (PIDA) của Anh quy định một số tố cáo đủ điều kiện bảo vệ gồm: Hành vi phạm tội hình sự, nghĩa vụ pháp lý không được thực hiện, vụ án oan, sự an toàn cá nhân bị đe dọa, môi trường đã, đang hoặc có khả năng bị hủy hoại… Luật Bảo vệ người tố cáo (WPA) của Nhật Bản liệt kê rõ các hành vi vi phạm pháp luật về thực phẩm, sức khỏe, an toàn và môi trường. Việc liệt kê cụ thể các hành vi tiết lộ được bảo vệ còn được quy định trong luật của Nam Phi, Romania.

Về cơ bản, pháp luật các nước khuyến khích và bảo vệ việc tiết lộ hành vi vi phạm pháp luật hình sự, tham nhũng, hành vi trái đạo đức hay các mối nguy hiểm có thể gây nguy hại cho sức khỏe và an toàn cộng đồng, sử dụng công quỹ trái phép, lạm dụng chức quyền, bỏ bê trách nhiệm công việc. Tuy nhiên, đạo luật của một số quốc gia quy định giới hạn phạm vi nội dung tiết lộ được bảo vệ như: Không bảo vệ những tiết lộ mà nội dung ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh quốc gia, hoặc chính sách ngoại giao và quan hệ quốc tế, hoặc những tố cáo mà nội dung thông tin có được do vi phạm các quyền cơ bản hoặc nghĩa vụ bảo mật chuyên nghiệp.

Bảo vệ danh tính và chống trả thù người tố cáo

Về bảo vệ danh tính người tố cáo, hầu hết các luật tố cáo quy định bảo vệ danh tính người tố cáo, trừ khi người tố cáo đồng ý cho tiết lộ. Ví dụ, pháp luật Mỹ nghiêm cấm tiết lộ danh tính người tố giác mà không có sự đồng ý, trừ trường hợp Văn phòng Tư vấn đặc biệt (OSC) xác định rằng việc tiết lộ danh tính của cá nhân là cần thiết vì mối nguy hiểm sẽ xảy ra đối với sức khỏe hoặc an toàn công cộng, hoặc nguy cơ vi phạm luật hình sự.

Luật PID của Ấn Độ áp đặt hình thức phạt tù và phạt tiền đối với việc để lộ danh tính người tố cáo. Pháp luật Hàn Quốc nghiêm cấm tiết lộ danh tính người tố cáo mà không có sự đồng ý của họ, người vi phạm quy định này có thể bị xử lý kỷ luật hoặc chịu trách nhiệm hình sự, với mức phạt tù đến 5 năm.

Người tố cáo có thể phải đối mặt với những tổn thất thể chất, tinh thần hay bị ảnh hưởng đến việc làm và điều kiện làm việc. Vì thế, pháp luật các nước thường tập trung bảo vệ chống lại hành động phân biệt đối xử và trả thù cá nhân. Luật Đấu tranh chống tham nhũng của Pháp đưa ra các biện pháp bảo vệ việc làm ở phạm vi rộng cho người tố cáo, bao gồm cả việc kỷ luật trực tiếp hoặc gián tiếp, sa thải hoặc phân biệt đối xử, đặc biệt liên quan đến thù lao, đào tạo, phân loại và phân loại lại, phân công, trình độ chuyên môn, thăng tiến nghề nghiệp, thuyên chuyển hoặc gia hạn hợp đồng, cũng như loại trừ tuyển dụng hoặc tiếp nhận vào thực tập.

Bên cạnh bảo vệ người tố cáo trước các hành vi gây thiệt hại liên quan đến việc làm, pháp luật về tố cáo ở một số nước còn bảo vệ rủi ro bởi trách nhiệm pháp lý hình sự và dân sự (quyền miễn trừ) cho người tố cáo. Tại Hàn Quốc, Điều 14 Luật Bảo vệ người tố cáo vì lợi ích công quy định nếu việc tố cáo vì lợi ích công cộng mà dẫn đến hành vi phạm tội thì hình phạt của những người này được giảm nhẹ hoặc tha thứ.

Nhật An
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang