DIỄN ĐÀN ĐBND
Cập nhật 17:26 | 29/01/2020 (GMT+7)
.
Luật Dân quân tự vệ (sửa đổi)

Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh và rộng khắp

08:18 | 13/01/2020
Gồm 8 chương, 50 điều, Luật Dân quân tự vệ (sửa đổi) được Quốc hội thông qua ngày 22.11.2019 có nhiều nội dung mới đáng chú ý, nhằm thể chế đường lối, quan điểm mới của Đảng liên quan đến dân quân tự vệ, nhằm xây dựng dân quân tự vệ vững mạnh và rộng khắp, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Hoàn chỉnh địa vị pháp lý về vị trí, chức năng của dân quân tự vệ

Luật Dân quân tự vệ đã thể chế đường lối, quan điểm mới của Đảng liên quan đến dân quân tự vệ, nhất là Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, các nghị quyết, kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Chiến lược Quốc phòng Việt Nam, Chiến lược Quân sự Việt Nam, Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Chiến lược Bảo vệ biên giới quốc gia; đồng thời, cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 về xây dựng dân quân tự vệ vững mạnh và rộng khắp, bảo đảm thống nhất với hệ thống pháp luật về quốc phòng, an ninh và pháp luật có liên quan.

So với Luật Dân quân tự vệ năm 2009, Luật lần này đã giảm 1 chương, 16 điều, quy định về nghĩa vụ tham gia Dân quân tự vệ; vị trí, chức năng, nhiệm vụ, nguyên tắc, tổ chức, hoạt động, chế độ, chính sách và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với dân quân tự vệ.

Về giải thích từ ngữ, Điều 2 Luật mới ban hành bỏ quy định về “Dân quân tự vệ nòng cốt ”, “Dân quân tự vệ rộng rãi ” chỉ sử dụng khái niệm “Dân quân tự vệ” nhằm phù hợp với Điều 66 Hiến pháp năm 2013, thống nhất với Luật Quốc phòng và các luật có liên quan khác. Luật cũng bổ sung giải thích các cụm từ về “Ban chỉ huy quân sự cơ quan, tổ chức”, “Công tác Dân quân tự vệ để thống nhất cách hiểu các cụm từ này trong Luật.

Luật đã bổ sung, hoàn chỉnh địa vị pháp lý về vị trí, chức năng của dân quân tự vệ là thành phần của lực lượng vũ trang nhân dân; là lực lượng bảo vệ Đảng, chính quyền, tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản của cơ quan, tổ chức ở địa phương, cơ sở, làm nòng cốt cùng toàn dân đánh giặc ở địa phương, cơ sở khi có chiến tranh.

Về nguyên tắc tổ chức, hoạt động của dân quân tự vệ, Điều 4 Luật mới ban hành đã bổ sung quy định về sự chỉ huy của Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam và người chỉ huy đơn vị quân đội vào trong nguyên tắc tổ chức, hoạt động của dân quân tự vệ nhằm bảo đảm chặt chẽ nguyên tắc lãnh đạo của Đảng đối với dân quân tự vệ và phù hợp với thực tế.

Nâng cao chất lượng tổng hợp và khả năng sẵn sàng chiến đấu

Kế thừa Luật Dân quân tự vệ năm 2009, Luật quy định 7 nhiệm vụ của dân quân tự vệ; đồng thời, bổ sung một số nhiệm vụ mới. Đó là tham gia thực hiện các biện pháp về chiến tranh thông tin, chiến tranh không gian mạng theo quy định của pháp luật, quyết định của cấp có thẩm quyền, nhằm thống nhất với Luật Quốc phòng và đáp ứng yêu cầu hoạt động của dân quân tự vệ trong tình hình mới, nhất là các loại hình chiến tranh mới trong tương lai.

Về thành phần của dân quân tự vệ, Điều 6 của Luật quy định, dân quân tự vệ thường trực là một trong những thành phần của dân quân tự vệ, không luân phiên trong dân quân cơ động để khẳng định địa vị pháp lý của dân quân tự vệ thường trực, phù hợp với thực tế hiện nay các địa phương đã và đang thực hiện.

Cơ bản kế thừa Luật Dân quân tự vệ năm 2009, Luật quy định thời hạn tham gia dân quân thường trực là 2 năm; đồng thời, quy định đối với dân quân biển, tự vệ và chỉ huy đơn vị dân quân tự vệ được kéo dài thời hạn thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ đến hết 50 tuổi đối với nam và 45 tuổi đối với nữ, nhằm khắc phục tình trạng một số địa phương, cơ quan, tổ chức thiếu người để tổ chức dân quân tự vệ.

 Nhằm cải cách hành chính, tiết kiệm thời gian, nguồn lực của công dân và cơ quan, tổ chức theo tinh thần cải cách hành chính của Đảng và Nhà nước, Điều 9 của Luật đã bổ sung quy định lồng ghép đăng ký công dân thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ, với đăng ký nghĩa vụ quân sự. Luật còn mở rộng đối tượng được tạm hoãn, miễn thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ nhằm tương thích với Luật Nghĩa vụ quân sự, phù hợp với thực tế và bảo đảm bình đẳng giới.

So với trước đây, Luật đã bổ sung một số trường hợp tạm hoãn nghĩa vụ dân quân tự vệ như: nam giới một mình nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi; người có chồng hoặc vợ là công chức, viên chức, công nhân quốc phòng đang phục vụ trong quân đội, công an; lao động chính duy nhất trong hộ cận nghèo... Luật cũng đã bổ sung quy định thôi thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ trước thời hạn; đồng thời, quy định đưa ra khỏi danh sách dân quân tự vệ nhằm khắc phục những vướng mắc, bất cập của Luật Dân quân tự vệ năm 2009, nâng cao chất lượng tổng hợp và khả năng sẵn sàng chiến đấu của lực lượng Dân quân tự vệ.

Về tổ chức dân quân tự vệ, Luật bổ sung quy định thôn đội trưởng kiêm tiểu đội trưởng hoặc trung đội trưởng dân quân tại chỗ ở thôn, nhằm tinh gọn, nâng cao hiệu quả hoạt động của dân quân ở thôn. Quy định này sẽ giảm trên 130.000 dân quân ở thôn.

Bảo đảm điều kiện tổ chức, hoạt động

Về điều kiện tổ chức tự vệ trong doanh nghiệp, Luật quy định có tính chất mở và linh hoạt, chỉ thành lập tự vệ trong các doanh nghiệp khi có yêu cầu của nhiệm vụ quân sự, quốc phòng trong khu vực phòng thủ của địa phương và phù hợp với tổ chức sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Theo Điều 17 của Luật, doanh nghiệp có đủ 4 điều kiện thì được xem xét thành lập tự vệ: Bảo đảm sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, sự quản lý của UBND các cấp và sự chỉ huy của cơ quan quân sự địa phương cấp tỉnh, cấp huyện; theo yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, đề án, kế hoạch tổ chức dân quân tự vệ của địa phương nơi doanh nghiệp hoạt động và phù hợp với tổ chức sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp; đã hoạt động từ đủ 24 tháng trở lên; có số lượng người lao động đủ tiêu chuẩn tuyển chọn thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ để tổ chức ít nhất một tiểu đội tự vệ.

Luật cơ bản kế thừa nội dung chế độ, chính sách của dân quân tự vệ của Luật Dân quân tự vệ năm 2009; đồng thời, điều chỉnh bổ sung theo hướng luật chỉ quy định chế độ, chính sách được hưởng, còn định mức được hưởng giao Chính phủ quy định chi tiết để phù hợp với thẩm quyền của Chính phủ và bảo đảm tính linh hoạt. Luật còn bổ sung chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với dân quân thường trực; phụ cấp đặc thù đi biển; bảo đảm tiền ăn thay vì chỉ quy định là hỗ trợ tiền ăn như trong Luật hiện hành.

Về kinh phí, Luật quy định theo hướng: Ngân sách nhà nước bảo đảm cho dân quân tự vệ của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị sự nghiệp công lập và địa phương. Kinh phí của tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập bảo đảm cho tự vệ của cơ quan, đơn vị mình. Luật cũng điều chỉnh, bổ sung một số nội dung về nhiệm vụ chi cho dân quân tự vệ, nhằm khắc phục quy định chồng chéo nhiệm vụ chi cho dân quân tự vệ trong hệ thống pháp luật về dân quân tự vệ hiện hành và pháp luật có liên quan.

Về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức về dân quân tự vệ, Luật điều chỉnh, bổ sung một số quy định mới nhằm thống nhất với các luật có liên quan, bảo đảm tính minh bạch, quy định rõ trách nhiệm của từng bộ, ngành, cơ quan, tổ chức và chính quyền địa phương. Chương VI của Luật quy định cụ thể trách nhiệm của Chính phủ; Bộ Quốc phòng; Bộ Công an; Bộ, cơ quan, tổ chức; chính quyền địa phương các cấp; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận thay vì chỉ quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về dân quân tự vệ; trách nhiệm của Bộ Quốc phòng, cơ quan quân sự các cấp và Ban chỉ huy quân sự cấp xã; Trách nhiệm của các bộ, ngành; Ủy ban nhân dân các cấp, người đứng đầu cơ quan, tổ chức như trong Luật hiện hành.

Nhằm bảo đảm Luật được triển khai thi hành ngay khi có hiệu lực từ ngày 1.7.2020, Bộ Quốc phòng hiện đang triển khai xây dựng các văn bản thi hành Luật gồm: 2 nghị định của Chính phủ, 5 quyết định của Thủ tướng Chính phủ, 6 thông tư của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

Nhật An
Xem tin theo ngày:
Ý KIẾN CHUYÊN GIA
11:33 19/02/2018
Kiến nghị cử tri được “ghi nhận” nhưng chưa giải quyết dứt điểm, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Sơn La Nhâm Thị Phương cho rằng, cần xác định việc giải quyết, trả lời đầy đủ, đúng thời hạn các kiến nghị của cử tri là một trong những tiêu chí đánh giá hoàn thành nhiệm vụ; tạo sức ép, buộc từng ngành, cấp chủ động, năng động thực hiện đúng, đủ và kịp thời.
Quay trở lại đầu trang