DIỄN ĐÀN ĐBND
Cập nhật 16:08 | 24/01/2020 (GMT+7)
.
Phiên giải trình về tạm giữ, tịch thu phương tiện giao thông vận tải đường bộ theo thủ tục hành chính

Không được né tránh trách nhiệm

07:58 | 13/12/2019
Đây là một trong những yêu cầu được nêu ra tại Phiên giải trình của Ủy ban Pháp luật về tạm giữ, tịch thu phương tiện giao thông vận tải đường bộ theo thủ tục hành chính chiều qua. Thực tế cũng cho thấy, hiện tượng các điểm tạm giữ bị quá tải, trong khi nhiều phương tiện bị hỏng hóc, cũ nát. Các bộ, ngành có liên quan đã tham gia giải trình, làm rõ nguyên nhân, hướng khắc phục thực trạng này.

Ùn ứ ở bãi, kho tạm giữ phương tiện

 “Các thành viên Ủy ban Pháp luật thống nhất cho rằng, Bộ Tư pháp trong quá trình giúp Chính phủ nghiên cứu sửa đổi Luật Xử lý vi phạm hành chính cần quan tâm sửa đổi các điều, khoản được đưa ra tại Phiên giải trình này. Bộ Giao thông - Vận tải sớm tham mưu Chính phủ sửa đổi Nghị định 46 theo hướng nếu hành vi gây nguy hiểm cho xã hội sau khi được khắc phục và chứng minh cần sớm trả lại phương tiện bị tạm giữ. Đây là giải pháp căn cơ để giảm đầu vào, góp phần giảm ùn ứ tại các bãi, kho tạm giữ xe. Đồng thời có phương tiện xử lý phù hợp với phương tiện cũ nát, không an toàn khi lưu thông, trường hợp chuyển đổi sở hữu nhưng không đăng ký… để vừa đáp ứng yêu cầu của quản lý Nhà nước, vừa xử lý hành vi vi phạm an toàn giao thông đường bộ hiệu quả hơn”.

Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Hoàng Thanh Tùng

Thời gian qua, các cơ quan, người có thẩm quyền nhìn chung đều thực hiện nghiêm túc, đúng các quy định pháp luật về xử lý phương tiện quá hạn tạm giữ theo quy định tại Điều 126, Luật Xử lý vi phạm hành chính và Nghị định 115 của Chính phủ. Song, nhiều đại biểu cũng chỉ rõ, phương tiện đã cũ, nát, không bảo đảm tiêu chuẩn lưu hành sau khi bị tạm giữ hầu hết không được đến nhận lại do giá trị thấp, mức phạt cao, gây tồn trong kho tạm giữ.

Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Nguyễn Trường Giang chỉ rõ, ách tắc trong xử lý những xe không được người dân đến nhận lại có nguyên nhân do Nghị định 115 của Chính phủ về quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chính mới xác định số lần thông báo trên phương tiện truyền thông đại chúng, song không xác định rõ khoảng thời gian giữa các lần thông báo. Mỗi phương tiện tạm giữ đều phải lập hồ sơ, nên dù quy định hiện hành cho phép sau 1 tháng tạm giữ không đến nhận, chính quyền địa phương sẽ ban hành quyết định tịch thu, nhưng do các địa phương không thể ngày nào cũng ban hành quyết định tịch thu khi hàng ngày đều có xe vào bãi, kho tạm giữ, nên thường thực hiện ban hành quyết định tịch thu một hoặc hai lần trong năm. Chưa kể, khi quyết định được phương án xử lý cũng phải tiến hành trong một thời gian nữa.

Từ báo cáo của Công an TP Hồ Chí Minh, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật nhận thấy, mỗi phương tiện tạm giữ khi bán đấu giá có mức giá trung bình 700 nghìn đồng đến 1 triệu đồng/xe. Tuy nhiên, số lượng phương tiện tạm giữ có khả năng sử dụng thấp (theo Công an quận 4, TP Hồ Chí Minh trong 10.000 xe tạm giữ hàng năm chỉ có 20 xe sử dụng được), nên kinh phí thu được qua bán đấu giá không đủ, Nhà nước phải chi thêm tiền để bảo quản. Ngoài ra, nếu chỉ bán thành công 300/2.000 xe đưa ra bán đấu giá, cơ quan có thẩm quyền cũng chỉ được thanh toán chi phí bảo quản với những xe này, còn 1.700 xe phải tự bỏ chi phí. “Công an TP Hồ Chí Minh đã phải tạm ứng 5 tỷ đồng để bảo quản xe bị tạm giữ, tịch thu, song không quyết toán được, xe vẫn ùn ở các bãi trông giữ”.

Không chỉ gây ùn ứ tại các bãi, kho tạm giữ phương tiện giao thông, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Nguyễn Sỹ Cương còn nghe phản ánh rằng, quá trình này không làm chặt chẽ sẽ biến nơi đây thành địa điểm tiêu thụ xe gian, không có giấy tờ tại các địa bàn còn khó khăn. Thậm chí, việc tạm giữ xe cũng bị lợi dụng để hợp thức hóa xe nhập lậu bằng cách cố tình vi phạm để bị tạm giữ, sau đó sẽ mua bằng được những xe này khi được đưa ra bán đấu giá. Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại lưu ý, giá thanh lý phương tiện giao thông là vô cùng, nên người ta chỉ cần có quyết định của hội đồng về số khung, số máy sẽ tiến hành mua lại, từ đó “biến” xe bất hợp pháp thành hợp pháp.

Giải trình về vấn đề này, Thứ trưởng Bộ Công an Nguyễn Duy Ngọc cho biết, trong các quy định hiện hành đã rõ quy trình giải quyết với phương tiện giao thông tạm giữ không được chủ sở hữu đến nhận như: Giám định số khung, số máy; thông báo trên phương tiện truyền thông đại chúng; tiến hành đấu giá. Thứ trưởng Bộ Công an khẳng định, các quy định này đều được triển khai thực hiện nghiêm túc thời gian qua, nếu đâu đó có sai phạm như công dân phản ánh sẽ bị truy tố theo quy định của Bộ luật Hình sự. Thứ trưởng Bộ Công an cũng đề nghị, “nếu các ĐBQH có thông tin về những hành vi sai phạm này xin thông tin để Bộ Công an chỉ đạo xử lý”.

Thừa nhận hiện tượng thông đồng giữa chủ phương tiện và người vi phạm, và sẽ xử lý được nếu chứng minh có sự thông đồng, song, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đặng Hoàng Oanh khẳng định, Khoản 1, Điều 126, Luật Xử lý vi phạm hành chính có điều chỉnh với trường hợp này, chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp cố ý để vi phạm hành chính sẽ bị tịch thu hoặc nộp phạt khoản tiền tương đương.

Thu hẹp phạm vi tạm giữ phương tiện?

Tình trạng quá tải ở các bãi trông giữ phương tiện giao thông vận tải đường bộ bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chính theo báo cáo của Bộ Công an có một nguyên nhân đến từ quy định tại Nghị định 46 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt. Báo cáo của Bộ Công an cũng nêu rõ: “Quy định các hành vi bị áp dụng biện pháp tạm giữ xe tại Nghị định số 46 là những hành vi mà người điều khiển phương tiện dễ vi phạm (không có giấy đăng ký xe, vi phạm nồng độ cồn, chưa đủ độ tuổi quy định...) nên số lượng xe bị tạm giữ rất lớn. Trong khi đó, điều kiện cơ sở vật chất tại các nơi tạm giữ phương tiện của Công an các đơn vị, địa phương chưa đáp ứng được yêu cầu”.

Theo Thứ trưởng Đặng Hoàng Oanh, nếu nghiên cứu các nhóm hành vi được quy định tại Nghị định 46 sẽ thấy không rộng, nhưng trong thực tế áp dụng có thể diễn giải và phát sinh trường hợp không thực sự cần thiết áp dụng tạm giữ, song vẫn tiến hành. “Bộ Tư pháp đã đề nghị Chính phủ rà soát quá trình thực hiện nội dung này khi nghiên cứu sửa đổi Nghị định 46. Trong tình trạng phương tiện giao thông bị tạm giữ đang tồn ứ quá nhiều cũng cần xem xét lại quy định này, Bộ Tư pháp sẽ phối hợp thực hiện”, Thứ trưởng Đặng Hoàng Oanh nêu ý kiến. 

Với góc nhìn khác, đại diện lãnh đạo Bộ Giao thông - Vận tải và Bộ Công an đều cho rằng, các hành vi vi phạm bị tạm giữ phương tiện được quy định tại Nghị định 46 đều rất nguy hiểm cho xã hội. Theo Thứ trưởng Nguyễn Duy Ngọc, những hành vi này nếu không tiến hành giữ sẽ không xử lý được, cũng như bảo đảm cho chính người điều khiển phương tiện vận tải đường bộ và những người cùng tham gia. Quy định hiện hành cũng đã xác định rõ sau khi tiến hành khắc phục hoặc chứng minh được, các cá nhân vi phạm đều được trả lại phương tiện.

Tuy nhiên, nhiều thành viên Ủy ban Pháp luật nhận thấy, thực hiện quy định tạm giữ để ngăn chặn ngay hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều 78 của Nghị định số 46, người có thẩm quyền sẽ ra quyết định tạm giữ phương tiện đến 7 ngày mà “không để ý” đến nguyên tắc “việc tạm giữ trong trường hợp này phải được chấm dứt ngay sau khi hành vi nguy hiểm cho xã hội không còn” quy định tại Khoản 2, Điều 125, Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Qua giải trình, nhiều thành viên Ủy ban Pháp luật nhận thấy, tình trạng ùn ứ tại các bãi, kho tạm giữ hay tạm giữ lâu ngày gây hỏng hóc phương tiện không có “lỗi” từ Luật Xử lý vi phạm hành chính, mà có nguyên nhân từ hạn chế của các văn bản dưới luật. Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Trần Thị Dung cho rằng, mỗi cơ quan chức năng cần có trách nhiệm hơn, nhìn thẳng vào tồn tại, để tập trung sửa đổi các văn bản dưới luật.

Thanh Hải
Xem tin theo ngày:
Ý KIẾN CHUYÊN GIA
11:33 19/02/2018
Kiến nghị cử tri được “ghi nhận” nhưng chưa giải quyết dứt điểm, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Sơn La Nhâm Thị Phương cho rằng, cần xác định việc giải quyết, trả lời đầy đủ, đúng thời hạn các kiến nghị của cử tri là một trong những tiêu chí đánh giá hoàn thành nhiệm vụ; tạo sức ép, buộc từng ngành, cấp chủ động, năng động thực hiện đúng, đủ và kịp thời.
Quay trở lại đầu trang