DIỄN ĐÀN ĐBND
Cập nhật 08:54 | 10/12/2019 (GMT+7)
.
Dự thảo Đề án tổng thể phát triển KT - XH vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Cốt lõi thực hiện quyền bình đẳng về cơ hội là gì?

07:16 | 07/09/2019
Dự thảo Đề án tổng thể phát triển KT - XH vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi hướng tới mục tiêu thu hẹp khoảng cách giữa các vùng, miền, giữa đồng bào miền núi với đồng bào miền xuôi, để không ai bị bỏ lại phía sau. Tuy nhiên, tại Phiên họp thẩm tra sơ bộ của Thường trực Hội đồng Dân tộc, không ít ý kiến vẫn lo ngại về tính khả thi của dự thảo Đề án, khi chưa chỉ rõ được cốt lõi của việc thực hiện quyền bình đẳng về cơ hội là gì? Kinh phí để thực hiện Đề án ra sao?

Thay đổi tư duy, nhận thức thế nào?

Dự thảo Đề án tổng thể phát triển KT - XH vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (dự thảo Đề án - PV) do Ủy ban Dân tộc chủ trì xây dựng, vừa được Thường trực Hội đồng Dân tộc thẩm tra sơ bộ. Về quan điểm của dự thảo Đề án, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Đỗ Văn Chiến nhấn mạnh, đầu tư phát triển KT - XH vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là đầu tư cho phát triển, góp phần tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới quốc gia, đi liền với xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số. Đồng thời, thu hẹp khoảng cách về mức sống của đồng bào vùng dân tộc thiểu số và miền núi so với vùng phát triển; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc, góp phần đẩy lùi các tệ nạn xã hội, nâng cao mặt bằng dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, nhất là cán bộ dân tộc thiểu số đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới; góp phần quan trọng thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, nhằm đạt mục tiêu không ai bị bỏ lại phía sau.

Dự thảo Đề án cũng chú trọng phát huy cao độ nội lực, lợi thế của vùng, đi đôi với gia tăng sự đầu tư và hỗ trợ của Trung ương, ưu tiên bố trí đầy đủ, kịp thời nguồn vốn thực hiện các chính sách được ban hành. Huy động nguồn lực của các thành phần kinh tế trong vùng, từ các vùng khác và các nguồn tài trợ quốc tế để phát triển kinh tế nhanh, bền vững và hiệu quả, trong đó, nguồn lực nhà nước là chủ yếu, có ý nghĩa quyết định, tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động và thu hút mạnh mẽ các nguồn lực khác. Ông Chiến nói thêm, trong các văn kiện của Đảng, chính sách của Nhà nước, chúng ta luôn nhấn mạnh ưu tiên đầu tư, nhưng dường như trong quá trình thực hiện lại thiên về hỗ trợ, vì vậy, dự thảo Đề án lần này một lần nữa nhấn mạnh “ưu tiên”.

Đồng tình cao với quan điểm của dự thảo Đề án, song một số ý kiến trong Thường trực Hội đồng Dân tộc cho rằng, cần phân tích, làm rõ thêm quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về chính sách dân tộc trong giai đoạn vừa qua đã phù hợp với tình hình thực tiễn hay chưa? Trong giai đoạn mới cần có sự thay đổi tư duy và nhận thức như thế nào cho phù hợp? Ví dụ, quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước thể hiện trong Hiến pháp năm 2013 và các văn kiện của Đảng hiện nay là: “Bình đẳng giữa các dân tộc, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc”. Vậy trong giai đoạn mới cần bổ sung vấn đề gì cho đồng bào dân tộc thiểu số? Vấn đề gì là cốt lõi cho việc thực hiện quyền bình đẳng về cơ hội? Bên cạnh đó, một số ý kiến cũng đề nghị đánh giá kỹ tác động của chính sách dân tộc trong giai đoạn vừa qua đã dẫn đến sự thay đổi như thế nào về vị thế, cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số trên các lĩnh vực chính trị - kinh tế - an sinh xã hội - y tế - giáo dục - văn hóa và bảo vệ môi trường.

Tạo thay đổi về quan hệ sản xuất

Đích đến của Đề án là rà soát, sửa đổi, bổ sung và tích hợp hệ thống chính sách dân tộc thành Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển KT - XH vùng đồng bào dân tộc thiểu số với 9 dự án như: Đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và tuyên truyền, vận động vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, kinh doanh; quy hoạch sắp xếp ổn định dân cư, hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt, công trình hợp vệ sinh; khai thác tiềm năng, lợi thế tạo sinh kế, việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân; phát triển nguồn nhân lực và đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số; tiếp tục thực hiện giai đoạn II Chương trình khoa học và công nghiệp cấp quốc gia (giai đoạn 2021 - 2025) “Những vấn đề cơ bản và cấp bách về dân tộc thiểu số và chính sách dân tộc ở Việt Nam đế năm 2030”… Tuy nhiên, Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Nguyễn Lâm Thành nhận xét, đề xuất 9 dự án của chương trình mục tiêu chưa thể hiện được giải pháp đột phá, có gì thực sự mới so với giai đoạn trước ngoài việc gom chính sách lại và tăng 2 lần mức vốn so với Chương trình 135 - ­Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Các giải pháp khác trong dự thảo Đề án trùng khá nhiều với dự án của Chương trình mục tiêu quốc gia. Dự thảo Đề án cũng không nêu rõ hành động, sản phẩm chính sách của các giải pháp đó.

Đáng lưu ý hơn, ngay khi trình bày dự thảo Đề án, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Đỗ Văn Chiến cũng thừa nhận, “kinh phí đề xuất trong Đề án tổng hợp từ các bộ, ngành, địa phương rất lớn, khó có thể đáp ứng. Do vậy, Chính phủ đề nghị QH phê duyệt chủ trương và các nội dung chủ yếu của đề án. Khi xây dựng chương trình mục tiêu quốc gia phát triển KT - XH vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, Chính phủ sẽ tổng hợp, cân đối và trình QH theo quy định của Luật Đầu tư công và Luật Ngân sách nhà nước”. Điều này khiến Thường trực Hội đồng Dân tộc lo ngại về tính khả thi của dự thảo Đề án.

Có lẽ mấu chốt trong Đề án lần này vẫn là khai thác lợi thế địa phương, vùng miền và Đề án phải chỉ ra lợi thế đó là gì, từ đó tạo ra sinh kế, việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân. Đây cũng là nhiệm vụ quan trọng nhất để đồng bào dân tộc thiểu số bảo đảm cuộc sống, vươn lên thoát nghèo. Nếu cứ dàn trải quá nhiều dự án và cách thể hiện còn mờ nhạt về sinh kế phi nông nghiệp, tạo việc làm, thì e rằng sẽ không thực sự tạo ra những đổi mới mang tính toàn diện. Như Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Nguyễn Lâm Thành đã chỉ ra là, cần tạo thay đổi về quan hệ sản xuất (các loại hình hợp tác phát triển) gắn với thúc đẩy lực lượng sản xuất ở vùng dân tộc.

Từ những ý kiến đóng góp tâm huyết, trách nhiệm của Thường trực Hội đồng Dân tộc, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Hà Ngọc Chiến cho biết, Hội đồng Dân tộc sẽ sớm hoàn thiện báo cáo thẩm tra dự thảo Đề án, với tinh thần đồng hành với Chính phủ, xây dựng Đề án đạt chất lượng cao nhất, để trình QH.

Ý Nhi
Xem tin theo ngày:
Ý KIẾN CHUYÊN GIA
11:33 19/02/2018
Kiến nghị cử tri được “ghi nhận” nhưng chưa giải quyết dứt điểm, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Sơn La Nhâm Thị Phương cho rằng, cần xác định việc giải quyết, trả lời đầy đủ, đúng thời hạn các kiến nghị của cử tri là một trong những tiêu chí đánh giá hoàn thành nhiệm vụ; tạo sức ép, buộc từng ngành, cấp chủ động, năng động thực hiện đúng, đủ và kịp thời.
Quay trở lại đầu trang