DIỄN ĐÀN ĐBND
Cập nhật 11:20 | 16/09/2019 (GMT+7)
.
Việc thực hiện chính sách, pháp luật về người cao tuổi và ứng phó với già hóa dân số

Cụ thể hóa mục tiêu, giải pháp

07:36 | 12/07/2019
“Người cao tuổi là của quý vô giá của dân tộc, của Nhà nước”. Thực hiện lời căn dặn này của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng, Nhà nước và toàn xã hội luôn quan tâm chăm sóc sức khỏe, đời sống vật chất, tinh thần và tạo điều kiện để người cao tuổi phát huy trí tuệ, kinh nghiệm sống, lao động của mình trong gia đình và trong xã hội. Vấn đề người cao tuổi từng bước được thể chế hóa thông qua việc xây dựng pháp luật. Tuy nhiên, quá trình thực hiện chính sách, pháp luật có liên quan đã cho thấy những hạn chế.

Một trong những nước có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất châu Á

Hiện nay, nước ta có khoảng 11,3 triệu người cao tuổi (NCT), chiếm khoảng 11,95% dân số. Đây là kết quả của chính sách chăm sóc sức khỏe nhân dân và thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Vấn đề NCT từng bước được thể chế hóa thông qua việc xây dựng pháp luật, từ Pháp lệnh Người cao tuổi năm 2000, Luật Người cao tuổi năm 2009. Đặc biệt, Hiến pháp năm 2013 đã quy định: “NCT được Nhà nước, gia đình và xã hội tôn trọng, chăm sóc và phát huy vai trò trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Các quy định của Luật nhìn chung đã đi vào cuộc sống và có tác động tích cực trong việc chăm sóc, phát huy vai trò NCT. Tuy nhiên, quá trình thực hiện Luật Người cao tuổi cũng còn những hạn chế. Tỷ lệ NCT tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) thấp. Các chính sách được quy định trong Luật về trách nhiệm của trạm y tế xã, phường, thị trấn thực hiện còn rất hạn chế. Hoạt động văn hóa, giáo dục, thể dục, thể thao, giải trí, du lịch, giao thông công cộng ở khu vực nông thôn, nhất là vùng sâu, vùng xa còn khó khăn. Các quy định về giảm giá vé, giá dịch vụ tham quan di tích văn hóa, lịch sử, bảo tàng, danh lam thắng cảnh, tham gia giao thông thực hiện còn hạn chế, chưa đồng bộ. Số lượng cơ sở bảo trợ xã hội nhìn chung còn thấp, nhiều cơ sở điều kiện vật chất, trang thiết bị rất khó khăn. Việc khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng các cơ sở chăm sóc NCT rất hạn chế. Mức hưởng trợ cấp còn thấp hơn rất nhiều so với mức sống tối thiểu.

Đây là những nội dung được các ĐBQH, đại biểu HĐND chỉ ra tại Hội thảo “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về người cao tuổi và già hóa dân số” do Ủy ban Về các vấn đề xã hội tổ chức ngày hôm qua tại TP Hồ Chí Minh. Từ thực tiễn thực hiện chính sách, pháp luật đối với NCT, nhiều ý kiến chỉ rõ, trong giai đoạn hiện nay, việc xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật đối với NCT đang đứng trước khá nhiều thách thức.

Trước hết là bởi, Việt Nam đã chính thức bước vào giai đoạn già hóa dân số từ năm 2011 với tỷ trọng dân số từ 60 tuổi trở lên là 10,1%; là một trong những nước có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất châu Á, thời gian chuyển từ giai đoạn già hóa dân số sang dân số già là 17 - 20 năm, ngắn hơn so với nhiều nước khác.

Thứ hai, quá trình già hóa dân số ở Việt Nam sẽ “già ở nhóm già nhất”, tốc độ tăng và số lượng NCT ở độ tuổi cao nhất (từ 80 tuổi trở lên) ngày càng lớn, tỷ trọng dân số từ 80 tuổi trở lên sau 5 năm, từ 2009 đến 2014 đã tăng từ 1,47% lên 2,1%.

Thứ ba, tuổi thọ trung bình năm 2014 là 73,2 tuổi, nhưng tuổi thọ khỏe mạnh chỉ là 66 tuổi. Theo nghiên cứu của Bệnh viện Lão khoa Trung ương, chỉ có 21,3% NCT hoàn toàn khỏe mạnh, 64,2% NCT có bệnh tật ảnh hưởng đến hoạt động hàng ngày; trung bình mỗi NCT mắc 3 bệnh mạn tính.

Thứ tư, do xu hướng già hóa dân số nên số người đóng BHXH cho một người hưởng lương hưu ngày càng giảm. Năm 1996 có 217 người đóng BHXH cho một người hưởng lương hưu, đến năm 2012 con số này giảm xuống chỉ còn 9,3 người.

Việc lựa chọn để giải quyết các thách thức và tận dụng tối đa các cơ hội bởi dân số già hóa là điều rất quan trọng để bảo đảm xã hội sẽ thu được những “lợi tức của sự trường thọ”. Để “già hóa thành công”, đòi hỏi các chính sách đối với NCT phải bảo đảm sự tham gia và đem lại những lợi ích cho NCT về ba mặt chủ yếu: Sức khỏe (giảm tỷ lệ khuyết tật, thương tật và ốm đau); xã hội (giúp NCT tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tăng cường giao lưu); kinh tế (ổn định thu nhập, tích cực tham gia các hoạt động kinh tế mang lại thu nhập). Hệ thống chính sách, pháp luật về NCT cần sửa đổi, bổ sung tác động vào ba mặt nêu trên và thể hiện theo ba nhóm chính sách. Đó là các chính sách an sinh xã hội để bảo đảm thu nhập cho NCT; các chính sách dịch vụ chăm sóc NCT để bảo đảm sức khỏe và tinh thần cho NCT; các chính sách phát huy vai trò NCT để tăng cường sự tham gia của nhóm đối tượng này.

Nghiên cứu đưa chỉ tiêu về người cao tuổi vào Nghị quyết phát triển kinh tế - xã hội của Quốc hội

Để khắc phục những hạn chế trong việc thực hiện Luật Người cao tuổi và giải quyết những thách thức đặt ra về già hóa dân số, các cơ quan thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về NCT cần quan tâm đến các giải pháp cụ thể.

Một, nghiên cứu, đánh giá, đề xuất sửa đổi, bổ sung một số quy định của Luật NCT theo hướng điều chỉnh nhóm đối tượng được hưởng trợ cấp xã hội theo hướng tập trung cho NCT có thu nhập thấp, hạ độ tuổi hưởng trợ cấp xã hội phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Quy định cụ thể vai trò của cộng đồng, gia đình trong chăm sóc NCT. Quy định lại trách nhiệm của ngành y tế trong chăm sóc sức khỏe cho NCT để tránh việc giao cho y tế cấp xã quá nhiều nhiệm vụ. Quy định BHYT chi trả kinh phí khám sức khỏe định kỳ quản lý sức khỏe cho NCT. Và, quy định chế tài trong thực hiện miễn, giảm giá một số dịch vụ cho NCT.

Hai, nghiên cứu đưa chỉ tiêu chăm sóc, phát huy vai trò NCT là chỉ tiêu trong Nghị quyết phát triển kinh tế - xã hội hàng năm, 5 năm của QH.

Ba, ban hành các chính sách cụ thể tạo điều kiện phát triển các cơ sở ngoài công lập chăm sóc NCT.

Bốn, nghiên cứu, xây dựng chiến lược quốc gia về NCT đến năm 2030 và chính sách quốc gia toàn diện thích ứng với già hóa dân số để giải quyết vấn đề già hóa dân số với các mục tiêu cụ thể, như bảo đảm vấn đề tài chính, chăm sóc sức khỏe, chăm sóc xã hội, sắp xếp cuộc sống phù hợp, xây dựng môi trường thân thiện, giải quyết vấn đề cô đơn của NCT, xây dựng mối quan hệ liên thế hệ và vấn đề chuẩn bị cho tuổi già từ khi còn trẻ.

Năm, tiếp tục hướng dẫn và chỉ đạo thực hiện các chính sách xã hội hóa, việc ưu đãi đối với các cơ sở bảo trợ xã hội, cơ sở chăm sóc NCT ngoài công lập.

Sáu, tăng cường vai trò của Ủy ban quốc gia về NCT và Ban công tác NCT tại địa phương.

Và cuối cùng, các địa phương cần cụ thể hóa các mục tiêu, giải pháp về công tác NCT vào chương trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, các nghị quyết chuyên đề của HĐND; ban hành các chính sách cụ thể tạo điều kiện cho cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia chăm sóc, phát huy vai trò NCT. Chủ động cân đối nguồn lực phù hợp để thực hiện công tác NCT. Chú trọng xây dựng, nhân rộng các mô hình chăm sóc NCT dựa vào cộng đồng hiệu quả, phát huy sự tham gia của người dân, gia đình và cộng đồng trong chăm sóc, phát huy vai trò NCT. HĐND các cấp tăng cường giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về NCT tại địa phương.

Nguyễn Hồng Ngọc
Xem tin theo ngày:
Ý KIẾN CHUYÊN GIA
11:33 19/02/2018
Kiến nghị cử tri được “ghi nhận” nhưng chưa giải quyết dứt điểm, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Sơn La Nhâm Thị Phương cho rằng, cần xác định việc giải quyết, trả lời đầy đủ, đúng thời hạn các kiến nghị của cử tri là một trong những tiêu chí đánh giá hoàn thành nhiệm vụ; tạo sức ép, buộc từng ngành, cấp chủ động, năng động thực hiện đúng, đủ và kịp thời.
Quay trở lại đầu trang