DIỄN ĐÀN ĐBND
Cập nhật 17:29 | 12/11/2019 (GMT+7)
.
Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14

Dễ hiểu, dễ thực hiện, dễ kiểm tra

08:18 | 07/07/2019
Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 đã sửa đổi, bổ sung các quy định nhằm đáp ứng yêu cầu của cải cách hành chính. Trong đó, có cải cách thủ tục quản lý thuế hướng tới hoạt động quản lý thống nhất, công khai, minh bạch, đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện, dễ kiểm tra.

Tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế

Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 gồm 17 chương, 152 Điều, với nhiều điểm mới, nhằm khắc phục hạn chế trong công tác quản lý thuế hiện hành. Trong đó, có hai điểm mới rất đáng được quan tâm.

Thứ nhất, Luật sửa đổi phạm vi điều chỉnh, bảo đảm bao quát việc quản lý các loại thuế và các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước; sửa đổi các quy định để tạo cơ sở pháp lý cho quản lý thuế hiện đại, tiếp cận tới những chuẩn mực, thông lệ quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế; quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý thuế cũng như các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong quản lý thuế.

Luật bổ sung nội dung người nộp thuế không bị xử lý vi phạm về thuế, không tính tiền chậm nộp đối với trường hợp do người nộp thuế thực hiện theo văn bản hướng dẫn và quyết định xử lý của cơ quan thuế, cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan đến nội dung xác định nghĩ vụ thuế của người nộp thuế. Quy định này tạo điều kiện cho người nộp thuế trong việc thực hiện nghĩa vụ của mình, đồng thời nâng cao vai trò trách nhiệm của cơ quan thuế khi thực thi công vụ.

Bổ sung quy định, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan như Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về quản lý thuế, bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ, giữa cơ quan quản lý ngành và địa phương trong quản lý thuế. Bộ Tài chính là cơ quan chủ trì giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về quản lý thuế. Một số bộ, ngành có liên quan phối hợp thực hiện nhiệm vụ quản lý thuế phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng bộ, ngành (những nhiệm vụ, quyền hạn có tính chất đặc thù của bộ trong việc quản lý thuế, không phải công việc thường xuyên đã được quy định tại văn bản quy định về chức năng, nhiệm vụ của bộ), gồm Bộ Công an, Bộ Công thương, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Giao thông và Vận tải, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Luật cũng quy định nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan Kiểm toán Nhà nước, cơ quan Thanh tra Nhà nước trong công tác quản lý thuế. Theo đó, cơ quan Kiểm toán Nhà nước, cơ quan Thanh tra Nhà nước thực hiện kiểm toán, thanh tra các hoạt động có liên quan đến cơ quan quản lý thuế theo quy định của pháp luật về kiểm toán nhà nước, thanh tra; quy định của pháp luật về quản lý thuế và các quy định của pháp luật có liên quan.

Đối với ngân hàng thương mại có trách nhiệm phối hợp với cơ quan quản lý thuế trong việc thu, nộp thuế, khấu trừ, nộp thay nghĩa vụ thuế của người nộp thuế, cung cấp thông tin, phong tỏa tài khoản… theo đề nghị của cơ quan quản lý thuế. Bổ sung quy định việc khấu trừ, nộp thay tổ chức, cá nhân ở nước ngoài có hoạt động kinh doanh thương mại điện tử; cung cấp thông tin để quản lý thuế phù hợp với việc quản lý thuế theo phương thức điện tử, đồng bộ trong phát triển Chính phủ điện tử và bảo đảm phù hợp với pháp luật về an toàn thông tin, an ninh mạng.

Luật bổ sung nội dung quy định các biện pháp hỗ trợ thu thuế theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Theo đó, đối với các điều ước quốc tế trong lĩnh vực thuế, Bộ Tài chính sẽ thay mặt Chính phủ trong việc đàm phán, ký kết; đối với thỏa thuận song phương giữa hai cơ quan thuế (cả cơ quan thuế và hải quan), tùy theo thẩm quyền được phân cấp, cơ quan quản lý thuế sẽ thực hiện việc khai thác, trao đổi thông tin, hợp tác nghiệp vụ, hỗ trợ thu thuế cho phù hợp, Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Xuân Hà nói.

Khoanh tiền nợ thuế

Thứ hai, Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 đã sửa đổi, bổ sung các quy định nhằm đáp ứng yêu cầu của cải cách hành chính trong đó, có cải cách thủ tục quản lý thuế hướng tới hoạt động quản lý thống nhất, công khai, minh bạch, đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện, dễ kiểm tra. Đồng thời, tạo cơ sở pháp lý để nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế, phòng chống trốn thuế, thất thu và nợ đọng thuế được quy định thống nhất trong tất cả các khâu của quản lý thuế: từ khâu khai thuế, tính thuế, nộp thuế, hoàn thuế đến quản lý nợ thu, thanh tra, kiểm tra thuế. Cụ thể:

Sửa đổi, bổ sung nguyên tắc kê khai thuế căn cứ vào mô hình hoạch toán kinh doanh và quy định về phân cấp ngân sách; nguyên tắc xác định giá tính thuế đối với giao dịch liên kết. Sửa đổi, bổ sung quy định trường hợp khi cơ quan thuế, cơ quan có thẩm quyền đã công bố quyết định thanh tra, kiểm tra thuế tại trụ sở của người nộp thuế thì người nộp thuế vẫn được khai bổ sung hồ sơ khai thuế và bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế theo quy định của luật này.

Sửa đổi quy định về thứ tự thanh toán theo nguyên tắc nộp các khoản nợ thuộc diện cưỡng chế trước, khoản nợ chưa thuộc diện cưỡng chế và khoản phải nộp phát sinh sau để bảo đảm hiệu lực của pháp luật thuế.

Bổ sung quy định thời hạn nộp hồ sơ thuế, chứng từ nộp thuế điện tử trong trường hợp gặp sự cố kỹ thuật, thời hạn nộp hồ sơ khai thuế khoán; thời hạn được khai bổ sung; thời hạn nộp thuế, tính tiền chậm nộp đối với số thuế phải nộp tăng thêm qua khai bổ sung nhằm bảo đảm thống nhất, rõ ràng, minh bạch giữa người nộp thuế và cơ quan thuế.

Sửa đổi quy định về thời hạn khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân chậm nhất là ngày cuối cùng của tháng thứ 4 kể từ ngày kết thúc năm dương lịch.

Đối với cơ quan hải quan, bổ sung nội dung trường hợp người nộp thuế khai bổ sung hồ sơ khai thuế sau thông quan phát sinh số thuế phải nộp tăng thêm hoặc cơ quan hải quan ấn định thuế sau thông quan, thì thời hạn nộp tiền thuế khai bổ sung, nộp tiền thuế ấn định được áp dụng theo thời hạn nộp thuế của tờ khai ban đầu.

Luật cũng bổ sung quy định về khoanh tiền nợ thuế. Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Xuân Hà cho biết, đối với các đối tượng người nộp thuế đã chết hoặc được pháp luật coi như đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự, người nộp thuế bỏ địa chỉ kinh doanh đã đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp chờ giải thể, doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, cơ quan đăng ký kinh doanh đã thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh được khoanh nợ thuế. Quy định này sẽ khắc phục được bất cập phát sinh nợ ảo, khi nợ phạt chậm nộp cao, dẫn đến nợ đọng lớn, không có khả năng thu hồi. Luật cũng quy định rõ về thẩm quyền khoanh nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, phân cấp cho thủ trưởng cơ quan quản lý thuế, bổ sung quy định thời điểm không tính tiền chậm nộp đối với các trường hợp được khoanh nợ.

Bổ sung đối tượng được xóa nợ đối với hợp tác xã bị Tòa án tuyên bố phá sản mà không còn tài sản để nộp thuế và mở rộng thẩm quyền của Chủ tịch UBND cấp tỉnh được xóa nợ thuế đối với khoản nợ dưới 5 tỷ đồng trên cơ sở đề nghị của Cục trưởng Cục thuế, Cục trưởng Cục Hải quan.

Quy định đối với trường hợp người nộp thuế phải nộp tiền chậm nộp có quyền đề nghị miễn tiền chậm nộp trong trường hợp gặp khó khăn do tiên tai, thảm họa, dịch bệnh, hỏa hoạn, tai nạn bất ngờ, các trường hợp bất khả kháng khác. Để tăng cường hiệu quả của công tác cưỡng chế thu nợ, đơn giản hóa thủ tục hành chính, Luật cũng quy định thêm các nguyên tắc áp dụng các biện pháp cưỡng chế linh hoạt. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 1.7.2020.

Ý Nhi
Xem tin theo ngày:
Ý KIẾN CHUYÊN GIA
11:33 19/02/2018
Kiến nghị cử tri được “ghi nhận” nhưng chưa giải quyết dứt điểm, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Sơn La Nhâm Thị Phương cho rằng, cần xác định việc giải quyết, trả lời đầy đủ, đúng thời hạn các kiến nghị của cử tri là một trong những tiêu chí đánh giá hoàn thành nhiệm vụ; tạo sức ép, buộc từng ngành, cấp chủ động, năng động thực hiện đúng, đủ và kịp thời.
Quay trở lại đầu trang