DIỄN ĐÀN ĐBND
Cập nhật 23:01 | 17/09/2019 (GMT+7)
.

Phải thay đổi từ nếp nghĩ đến cách làm

07:56 | 29/01/2019
Đó là chia sẻ của các đại biểu tại Hội thảo việc thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững trên địa bàn vùng dân tộc thiểu số, miền núi - Những góc nhìn đa chiều mới được Đoàn giám sát của UBTVQH tổ chức gần đây. Từ thực tế, chính sách và ngân sách vừa qua vẫn tập trung nhiều vào việc đầu tư cơ sở hạ tầng, nhiều ý kiến đề nghị, cần giúp đỡ đồng bào dân tộc thiểu số sản xuất theo tổ, nhóm, tăng cường liên kết và đa dạng hóa cách thức sản xuất…

Tại sao có nhóm thành công trong khi nhóm khác lại tụt hậu?

Trước thềm giám sát chuyên đề của UBTVQH về việc thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững trên địa bàn vùng dân tộc thiểu số, miền núi giai đoạn 2012 - 2018, Ủy ban Dân tộc, Ngân hàng Thế giới và Chính phủ Australia đã phối hợp công bố đề tài nghiên cứu “Tại sao có các nhóm dân tộc thành công trong khi các nhóm dân tộc khác lại tụt hậu”. Đề tài được thực hiện trên cơ sở dữ liệu khảo sát từ 53 dân tộc để xác định, mô tả đặc điểm của các nhóm thành công nhất và những nhóm kém thành công. Địa bàn khảo sát thuộc 7 tỉnh, 13 huyện, 17 xã và 30 thôn, ấp, đều là địa bàn cư trú tiêu biểu của 6 nhóm dân tộc được chọn khảo sát.

Kết quả khảo sát cho thấy, nhóm dân tộc thành công nhất là Sán Dìu, Mường; nhóm cận thành công là Kh’mer. Nhóm tụt hậu nhất là dân tộc H’Mong, Kh Mú. Nhóm cận tụt hậu nhất là Xơ đăng. Đánh giá theo kết nối hạ tầng, tuy rằng cơ sở hạ tầng đã có những cải thiện vượt bậc trong 2 thập kỷ gần đây nhưng vẫn có một số địa bàn nhỏ chưa được kết nối hoặc kết nối rất khó khăn. Nhóm dân tộc H’Mong, Khơ Mú cũng chính là nhóm có kết nối hạ tầng kém nhất.

Cơ hội tham gia vào thị trường, sản xuất hàng hóa và chuỗi giá trị tạo thu nhập được coi là yếu tố căn bản dẫn đến thành công. Tiếc rằng, dù là nhóm thành công hay tụt hậu thì sự tham gia vào nông nghiệp chính, có tiềm năng đều rất hạn chế, chỉ có dân tộc Kh’mer tham gia vào lĩnh vực thủy sản, Xơ Đăng với cà phê, cao su. Với các nhóm tụt hậu, sự tham gia vào sản xuất và thị trường phụ thuộc vào tiềm năng sinh kế bản địa như chè ở Tà Xùa hay táo mèo. Giá cả nông sản sinh kế của nhiều nhóm dân tộc thiểu số cũng biến động theo năm. Các nhóm thành công thường có thị trường đa dạng hóa, nhưng các nhóm tụt hậu thì kém đa dạng về sinh kế nên ảnh hưởng nặng nề hơn từ rủi ro thị trường. Các nhóm dân tộc thiểu số kém thành công phụ thuộc vào tín dụng của chủ cửa hàng hoặc thương lái. Biến động giá cả một vụ có thể dẫn đến mất sinh kế, tài sản sinh kế để trả nợ. Đáng lưu ý tác động từ biến đổi khí hậu cũng tập trung ở vùng cư trú của những nhóm kém thành công và có khả năng ứng phó hạn chế nhất. Rủi ro này trực tiếp đe dọa đến kết quả giảm nghèo chưa bền vững, đặt ra thách thức cho các nỗ lực giảm nghèo trong thời gian tới.

Các đại biểu cho rằng, xét về hệ thống chính sách pháp luật giảm nghèo, chúng ta đã ngày càng hoàn thiện, thể hiện sự cam kết cao của cả hệ thống chính trị trong thực hiện mục tiêu về bảo đảm an sinh xã hội. Thế nhưng, tác động của chính sách và cách ứng phó của các nhóm thành công, nhóm tụt hậu đúng là có sự khác nhau. Chính sách có hiệu quả với nhóm thành công, nhưng lại thất bại với nhóm tụt hậu. Nếu không ưu tiên nhiều hơn cho các nhóm tụt hậu thì khoảng cách, bất bình đẳng giữa các nhóm sẽ ngày càng lớn.

Tránh phân mảnh quản lý

Một số đại biểu cho biết thêm, những yếu tố tồn tại trong thực tế như thị trường lao động, động lực chính cho giảm nghèo chưa được quan tâm. Chính sách giảm nghèo và chính sách thị trường lao động chưa gặp nhau nên khó giúp đồng bào dân tộc thiểu số vươn lên thoát nghèo. Hiện nay chính sách về giảm nghèo vẫn đang tập trung vào xây dựng cơ sở hạ tầng là chủ yếu, cải thiện về “phần mềm” tức là cải thiện sinh kế dù đã được thảo luận, quan tâm nhưng chưa được cụ thể hóa bằng hành động, bằng phân bổ ngân sách. Đề tài nghiên cứu của Ủy ban Dân tộc, Ngân hàng Thế giới và Chính phủ Australia chỉ rõ, trong chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, vốn đầu tư cơ sở hạ tầng vẫn chiếm hơn 76% tổng số vốn. Quy trình xác định hộ nghèo, địa bàn nghèo là rõ ràng, khoa học, nhưng thực hiện bị “bóp méo”, vẫn còn tình trạng các hộ muốn vào danh sách nghèo, các xã muốn vào danh sách nghèo. Ngược lại, nhiều địa bàn vì sức ép hoàn thành chỉ tiêu giảm nghèo, hoàn thành tiêu chí nông thôn mới nên tiến hành giảm nghèo không thực chất và xây dựng nông thôn mới cũng chưa thực chất.

Các đại biểu tham dự Hội thảo khuyến nghị, trong thời gian tới nên sắp xếp và tái định hình lại hệ thống các chính sách về dân tộc thiểu số. Trước hết là tránh tình trạng phân mảnh, Ủy ban Dân tộc quản lý một ít, các chính sách khác rải rác ở nhiều bộ, ngành. Điều phối lại công tổ chức thực hiện giữa 3 cơ quan chính là Ủy ban Dân tộc, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Bộ NN và PTNT, tránh trùng lặp, chồng chéo. Chú trọng giúp đỡ đồng bào dân tộc thiểu số tham gia vào thị trường lao động, tiếp cận các dịch vụ công. Nên chăng hỗ trợ đồng bào vùng dân tộc thiểu số thực hiện sản xuất theo tổ nhóm, tăng cường liên kết và đa dạng hóa cách thức sản xuất.

Bên cạnh đó, tập trung tăng cường khả năng ứng phó, chống chịu của cộng đồng trước biến động thị trường, diễn biến khắc nghiệt của thời tiết và thiên tai. Kịp thời hỗ trợ, nhân rộng các sáng kiến tích cực của cá nhân, nhóm, cộng đồng về khả năng ứng phó, chống chịu thiên tai theo hướng bền vững. Đẩy mạnh tính hòa nhập xã hội cho các nhóm yếu thế trong cộng đồng dân tộc thiểu số nhằm tạo điều kiện, huy động họ trở thành các nhân tố thay đổi tích cực và tạo sự thay đổi trong cộng đồng. Như đại diện lãnh đạo tỉnh Gia Lai chia sẻ, quan trọng nhất đó là, phải thay đổi từ nếp nghĩ, cách làm trong đồng bào dân tộc thiểu số, thì mới từng bước vươn lên thoát nghèo bền vững.

Ý Nhi
Xem tin theo ngày:
Ý KIẾN CHUYÊN GIA
11:33 19/02/2018
Kiến nghị cử tri được “ghi nhận” nhưng chưa giải quyết dứt điểm, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Sơn La Nhâm Thị Phương cho rằng, cần xác định việc giải quyết, trả lời đầy đủ, đúng thời hạn các kiến nghị của cử tri là một trong những tiêu chí đánh giá hoàn thành nhiệm vụ; tạo sức ép, buộc từng ngành, cấp chủ động, năng động thực hiện đúng, đủ và kịp thời.
Quay trở lại đầu trang