DIỄN ĐÀN ĐBND
Cập nhật 23:46 | 05/06/2020 (GMT+7)
.
TIẾP TỤC ĐÓNG GÓP VÀO SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP 1992

Chính quyền địa phương cần được làm rõ và khẳng định ngay trong Hiến pháp

08:57 | 17/08/2013
Hiến pháp là đạo luật gốc của một quốc gia, có tính ổn định cao và được thực hiện trong thời gian dài; để xây dựng được bản Hiến pháp có chất lượng, phù hợp với đặc điểm và thể chế chính trị của mỗi nước, phù hợp với thời đại - là việc rất lớn và khó, đòi hỏi kiến thức, trí tuệ và hiểu biết sâu rộng ở rất nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… Nghiên cứu sửa đổi Hiến pháp 1992, chúng ta thấy ưu điểm là cơ bản, song chưa hoàn thiện. Trong phạm vi bài viết này, tôi xin đóng góp cụ thể vào Chương IX - Chính quyền địa phương như sau:

Về Chính quyền địa phương - đây là một trong những chương có nhiều ý kiến nhất và đa số không cảm thấy hài lòng và cho rằng chương này mờ nhạt, cơ cấu nội dung chưa hợp lý, chưa tương xứng với vị trí, vai trò vốn có của nó và chưa sát với thực tế. Các ý kiến chủ yếu xoay quanh:

- Dự thảo chưa làm rõ chính quyền địa phương là gì, gồm tổ chức nào, mấy cấp;

- Không tán thành “để mở” việc thành lập HĐND, UBND như dự thảo;

- Việc tổ chức chính quyền địa phương chưa tính đến vùng, miền, đơn vị có tính đặc thù; chưa đề cập đối với việc thành lập mới, sáp nhập, chia tách, điều chỉnh địa giới các đơn vị hành chính.

- Cơ cấu tổ chức, địa vị pháp lý, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cơ bản, nguyên tắc hoạt động và mối quan hệ - là những vấn đề cốt lõi của chính quyền địa phương thể hiện chưa rõ, thiếu và chưa đồng bộ v.v…

Nguyên nhân chính của tình trạng trên là:

- Nhận thức một số điểm về chính quyền địa phương chưa thật đầy đủ và chuẩn xác.

- Việc thí điểm không tổ chức HĐND ở quận, huyện, phường trong thời gian qua chưa được tổng kết một cách khách quan, toàn diện.

- Trước một số vấn đề mới như: Chính quyền đô thị, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt, hải đảo, miền núi… chúng ta chưa thật sự dứt khoát về quan điểm v.v...

Vì vậy, trước khi đóng góp vào nội dung của chương, xin được trao đổi những vấn đề nêu trên như sau:

Thứ nhất, nhận thức về vị trí về chính quyền địa phương: Chính quyền địa phương là nội dung lớn, có vị trí đặc biệt quan trọng, Hiến pháp, pháp luật của quốc gia được thực hiện đến đâu, hiệu quả như thế nào phụ thuộc rất nhiều vào cách thức tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương. Thực tế cho thấy: HĐND và UBND hợp thành chính quyền địa phương là hợp lý, hoạt động ngày càng hiệu quả, vì thế những điều căn bản nhất của hai thành tố này phải được hiến định ngay trong Hiến pháp. Khẳng định điều này vì: Vị trí, vai trò của nó xứng đáng và cần phải đưa ngày vào Hiến pháp - đạo luật gốc, cơ bản nhất của Nhà nước; sự tồn tại hơn 70 năm ở miền Bắc và gần 40 năm của chính quyền địa phương trong cả nước đã cung cấp đủ cơ sở thực tiễn và lý luận để tổ chức HĐND, UBND như thế nào cho hiệu quả và có lợi nhất cho sự phát triển của đất nước.

Thứ hai, về thí điểm không tổ chức HĐND quận, huyện, phường: khi triển khai đã có không ít ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược nhau, song chưa có sự đánh giá, tổng kết một cách khách quan, toàn diện. Đến khi lấy ý kiến vào sửa đổi Hiến pháp 1992 và Kỳ họp thứ 5, Quốc hội Khóa XIII vừa rồi đã có rất nhiều đóng góp về vấn đề này. Tuy còn có sự khác nhau, nhưng đa số đều tỏ ý băn khoăn và không tán thành bỏ HĐND cấp quận, huyện, phường một cách đồng loạt và đều có chung khẳng định một mệnh đề: Ở đâu có UBND thì ở đó có HĐND và ngược lại. Có thể nói, đó là xu hướng chính hiện nay, sau hơn 4 năm thí điểm. Cá nhân tôi cho rằng: HĐND và UBND với vị trí, chức năng, nhiệm vụ cơ bản như hiện nay là thiết chế hợp lý, phù hợp với quy luật và chế độ chính trị của Việt Nam; so với những năm trước đây, thể chế này hoạt động ngày càng hiệu quả, nhất là hoạt động của HĐND có nhiều tiến bộ. Còn những gì khiếm khuyết của thiết chế này cũng như của HĐND thì nên xem xét nguyên nhân cho thấu đáo và tác động theo chiều hướng tích cực, đi lên, để nó làm tốt hơn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao, chứ không nên theo chiều ngược lại là bỏ đi. Nếu bỏ đi HĐND ở đơn vị hành chính nào, là bỏ đi một thiết chế làm chủ, gần và gắn bó nhất với người dân trên địa bàn, điều đó ngược với quan điểm tăng cường quyền làm chủ của nhân dân; về thực tế, ở đâu có UBND mà không có HĐND, thì có lẽ ở đó đã mất đi một “công cụ pháp lý” hữu hiệu góp phần cho địa phương đó phát triển toàn diện, đúng hướng, bền vững và lành mạnh.

Thứ ba, vấn đề Chính quyền đô thị, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt, miền núi, hải đảo... là những nội dung mới đang đặt ra cần xem xét kịp thời, nghiêm túc, hướng cải cách hành chính cần làm rõ tính đặc thù và sự khác biệt đó để có mô hình tổ chức cho phù hợp trong thời gian tới. Nhưng thực tế sự khác biệt đó không phải tuyệt đối về mọi mặt và dù có sự khác nhau như thế nào cũng không thoát ly khỏi những điều căn bản nhất của một chính quyền địa phương, như vai trò, địa vị pháp lý, chức năng và quyền hạn, nhiệm vụ cơ bản. Vì vậy, không nên quy định chi tiết chính quyền đô thị, đơn vị hành chính - kinh tế đặc thù, vào bản Hiến pháp, mà chỉ quy định đại ý: về sự khác biệt trong tổ chức chính quyền ở đô thị, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt, chính quyền ở miền núi, hải đảo do luật định là đủ căn cứ triển khai sau này.

Với quan điểm như trên, xin đề nghị thể hiện chương này như sau:

1. Các đơn vị hành chính: giữ nguyên như Khoản 1 Điều 115 bản dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, cụ thể là: Các đơn vị hành chính lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được phân định như sau:

- Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

- Tỉnh chia thành huyện, thành phố thuộc tỉnh và thị xã; thành phố trực thuộc Trung ương chia thành quận, huyện và thị xã;

- Huyện chia thành xã, thị trấn; thành phố thuộc tỉnh, thị xã chia thành phường, xã; quận chia thành phường.

Ngoài ra, để phù hợp với yêu cầu phát triển và tính chất đặc thù ở một số vùng, miền, đề nghị bổ sung hiến định mở sau:

+ Việc thành lập đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt, đơn vị hành chính ở hải đảo, miền núi do luật định.

+ Việc thành lập mới, sáp nhập, chia tách, điều chỉnh địa giới các đơn vị hành chính thực hiện theo luật định.

2. Về chính quyền địa phương

- Chính quyền địa phương gồm 3 cấp: cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh); cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện); cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã).

- Chính quyền địa phương gồm: Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân (nên đổi từ Ủy ban nhân dân sang Ủy ban hành chính sẽ chuẩn hơn); Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được thành lập ở tất cả các đơn vị hành chính, hay nói cách khác ở đâu có UBND thì ở đó có HĐND và ngược lại - đây là nguyên tắc cần được khẳng định và hiến định ngay trong Hiến pháp. Ngoài ra, để phù hợp với đặc thù và thực tế phát triển, đề nghị bổ sung hiến định: việc thành lập chính quyền ở đô thị, các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt, miền núi, hải đảo do luật định.

- Chính quyền địa phương là cơ quan Nhà nước ở địa phương, được thành lập theo quy định của pháp luật, có trách nhiệm tổ chức và đảm bảo thi hành Hiến pháp và pháp luật trong phạm vi địa phương; thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật, thực hiện nhiệm vụ do cơ quan Nhà nước cấp trên giao. Quyết định và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cụ thể của địa phương; được đảm bảo điều kiện và tài chính để thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn do luật định.

- Chính quyền địa phương hoạt động theo nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm; trong phạm vi và thẩm quyền do luật định, chính quyền địa phương (HĐND) được ban hành cơ chế, chính sách đặc thù của địa phương nhằm khai thác tiềm năng, thế mạnh và điều kiện từng nơi, song không được trái với Hiến pháp và pháp luật; trong phạm vi và quyền hạn do luật định, chính quyền các địa phương được thỏa thuận, liên kết với nhau nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, trật tự của mỗi bên, song không được ảnh hưởng đến sự phát triển chung của cả nước và các địa phương khác.

- Chính quyền địa phương báo cáo và chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan Nhà nước cấp trên về việc thi hành Hiến pháp, luật và nhiệm vụ do cơ quan Nhà nước cấp trên giao; chịu sự giám sát của MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân địa phương về thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật.

3. Về Hội đồng nhân dân

- Vai trò, địa vị pháp lý của Hội đồng nhân dân giữ nguyên như điểm 1, khoản 1, Điều 116 dự thảo, cụ thể là: Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên.

- Hội đồng nhân dân có 3 chức năng sau:

+ Quyết định các vấn đề lớn, nhiệm vụ quan trọng trong việc xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, trật tự của địa phương.

+ Giám sát hoạt động của Thường trực HĐND, các Ban HĐND, của UBND, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân cùng cấp, giám sát việc thực hiện các nghị quyết của HĐND, việc thực hiện và tuân thủ theo pháp luật của các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị lực lượng vũ trang và của công dân trên địa bàn.      

+ Căn cứ vào Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và tình hình thực tế địa phương, Hội đồng nhân dân ban hành nghị quyết quy định cơ chế, chính sách có tính đặc thù của địa phương để thực thi Hiến pháp và pháp luật trên địa bàn.

Về chức năng thứ 3 - ban hành cơ chế, chính sách đặc thù… tuy thể hiện ở mức độ khác nhau ở các cấp Hội đồng nhân dân (càng xuống cấp dưới thì chức năng càng thể hiện ít hơn), song nhìn tổng thể, chức năng này quan trọng và cần thiết vì nó phù hợp với quan điểm phân cấp, phân nhiệm, phát huy tính tự chủ, tự quản, tự quyết, tự chịu trách nhiệm, khơi dậy tính năng động, sáng tạo, khai thác tiềm năng, thế mạnh vốn có của từng địa phương. Thực tế những năm qua cho thấy, địa phương nào phát triển tốt, phát triển mạnh, thường có những cơ chế, chính sách mới, phù hợp, tích cực…

- Nhiệm vụ và quyền hạn cơ bản của Hội đồng nhân dân gồm:

+ Bầu ra Thường trực HĐND, các Ban HĐND, lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với Thường trực, lãnh đạo các Ban HĐND. Cơ cấu tổ chức, vai trò, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Thường trực và các Ban của HĐND do luật định.

+ Bầu ra UBND cùng cấp - cơ quan chấp hành của HĐND, lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với Chủ tịch, Phó chủ tịch, các thành viên khác của UBND và người đứng đầu các tổ chức, cơ quan, đơn vị thuộc UBND.

+ Phối hợp công tác với Ủy ban MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội cùng cấp nhằm thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND và các bên liên quan.

Nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của HĐND từng cấp thể hiện trong tất cả các lĩnh vực: kinh tế - ngân sách; văn hóa - xã hội; pháp chế, quốc phòng, an ninh, trật tự trong phạm vi địa phương do luật định.

- Nhiệm kỳ của mỗi khóa HĐND theo nhiệm kỳ của Quốc hội là 5 năm.

4. Về đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ bản thống nhất như Điều 117 và Điều 118 sửa đổi Hiến pháp 1992, song nên gộp 2 điều 117 và 118 thành một điều, trình bày gọn hơn, theo thứ tự: vai trò, nhiệm vụ và quyền hạn cơ bản của đại biểu HĐND.

Đề nghị bổ sung hiến định mở:

Về số lượng, cơ cấu và tỷ lệ đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách do luật định.

5. Về Ủy ban nhân dân

Đề nghị giữ nguyên Điều 123 và 124 Hiến pháp 1992, cụ thể là:

Ủy ban nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu ra, là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của các cơ quan Nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân.

Ủy ban nhân dân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định, ra quyết định, chỉ thị và kiểm tra việc thi hành những văn bản đó.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân lãnh đạo, điều hành hoạt động của Ủy ban nhân dân.

Khi quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương, Ủy ban nhân dân phải thảo luận tập thể và quyết định theo đa số.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân có quyền đình chỉ  việc thi hành hoặc bãi bỏ những văn bản sai trái của các cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân và các văn bản sai trái của Ủy ban nhân dân cấp dưới; đình chỉ thi hành nghị quyết sai trái của Hội đồng nhân dân cấp dưới, đồng thời đề nghị Hội đồng nhân dân cấp mình bãi bỏ những nghị quyết đó.

Đề nghị bổ sung:

- Cơ cấu, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của UBND và Chủ tịch UBND các cấp do luật định.

- Nhiệm kỳ của mỗi khóa UBND theo nhiệm kỳ của HĐND.

- Để tạo điều kiện cho cải cách hành chính, ngoài hiến định HĐND bầu ra UBND - trong đó có Chủ tịch UBND, đề nghị xem xét có thể quy định thêm hiến định: đơn vị hành chính là đô thị, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt…, nhân dân có thể bầu chọn trực tiếp Chủ tịch hoặc Thị trưởng…; việc thực hiện hiến định này do luật định.

6. Về phối hợp hoạt động của HĐND và UBND với Ủy ban MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội: cơ bản thống nhất với Điều 119 Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992.

Tiến sĩ Luật học Nguyễn Huy Tính
Phó chủ tịch HĐND tỉnh Bắc Ninh
Xem tin theo ngày:
Ý KIẾN CHUYÊN GIA
11:33 19/02/2018
Kiến nghị cử tri được “ghi nhận” nhưng chưa giải quyết dứt điểm, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Sơn La Nhâm Thị Phương cho rằng, cần xác định việc giải quyết, trả lời đầy đủ, đúng thời hạn các kiến nghị của cử tri là một trong những tiêu chí đánh giá hoàn thành nhiệm vụ; tạo sức ép, buộc từng ngành, cấp chủ động, năng động thực hiện đúng, đủ và kịp thời.
Quay trở lại đầu trang