KINH TẾ
Cập nhật 23:12 | 12/11/2019 (GMT+7)
.

Triển vọng cho ngành gỗ hợp pháp và lâm sản

07:42 | 06/11/2019
Lâm sản Việt Nam hiện được xuất khẩu tới hơn 120 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó Mỹ, Nhật bản, Trung Quốc, EU và Hàn Quốc chiếm tới 86,6% tổng giá trị xuất khẩu lâm sản với kim ngạch trên 9,041 tỷ USD. Báo Đại biểu Nhân dân đã có cuộc trao đổi với ông NGUYỄN QUỐC TRỊ - Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp Việt Nam xung quanh vấn đề này.

- Xin ông cho biết những kết quả về xuất khẩu lâm sản và triển vọng những tháng cuối năm 2019?

- Từ đầu năm 2019, giá trị xuất khẩu gỗ và lâm sản luôn có sự tăng trưởng mạnh và ổn định do nhu cầu tiêu dùng của các thị trường quốc tế, đặc biệt là các thị trường lớn, truyền thống. Theo số liệu mới nhất, giá trị xuất khẩu gỗ, lâm sản tháng 10 ước đạt 1,049 tỷ USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu gỗ, lâm sản 10 tháng năm 2019 ước đạt 9,041 tỷ USD, tăng 18,8% so với cùng kỳ năm 2018.

Trong 10 tháng năm 2019, gỗ và lâm sản của Việt Nam đã xuất khẩu sang hơn 120 quốc gia và vùng lãnh thổ. Trong đó 5 thị trường xuất khẩu lớn gồm: Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, EU và Hàn Quốc với tổng giá trị xuất khẩu ước đạt 9,041 tỷ USD, chiếm khoảng  86,6% tổng giá trị xuất khẩu lâm sản Việt Nam. Trong đó xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ ước đạt 4,24 tỷ USD, tăng 33,3% so với cùng kỳ 2018; Thị trường Nhật Bản ước đạt 1,13 tỷ USD, tăng 12,6% so với cùng kỳ 2018; Thị trường Trung Quốc ước đạt 0,951 tỷ USD, tăng 1,2%; Thị trường EU ước đạt 0,804 tỷ USD, tăng 14,1%; Thị trường Hàn Quốc ước đạt 0,68 tỷ USD, giảm 15,1%.

Về triển vọng những tháng cuối năm 2019: chúng ta chỉ còn 2 tháng nữa là kết thúc năm 2019, đây cũng là thời điểm mua sắm, tiêu dùng mạnh mẽ các mặt hàng gỗ, lâm sản tại các thị trường lớn như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc. Qua theo dõi quy luật mua sắm trong nhiều năm qua và thông tin từ các doanh nghiệp về việc đã hoàn thành ký kết các đơn hàng xuất khẩu thì 3 tháng cuối năm, kim ngạch xuất khẩu gỗ, lâm sản luôn có giá trị cao nhất. Như tháng 10 này, là tháng đầu tiên trong năm đạt mốc xuất khẩu trên 1 tỷ USD. Kế hoạch xuất khẩu lâm sản năm 2019 được giao là 10,5 tỷ, đến thời điểm này chúng tôi đã đạt 9,041 tỷ USD. Có thể khẳng định 2 tháng cuối năm là 2 tháng sẽ có giá trị xuất khẩu cao nhất của lĩnh vực lâm sản theo thống kê của các năm. Còn đối với năm 2019, đây cũng là 2 tháng mà các doanh nghiệp cũng đã chuẩn bị đủ điều kiện để thực hiện hợp đồng với các đối tác. Do vậy chúng tôi khẳng định năm 2019 chúng tôi sẽ đạt vượt mức kế hoạch được giao, khả năng sẽ đạt 11 tỷ USD.

- Xin ông cho biết những thay đổi trong nhận thức của người dân về trồng rừng và sự chủ động của ngành trong việc phát triển nguồn nguyên liệu hợp pháp?

- Để có giá trị xuất khẩu cao thì cần nhiều yếu tố, trong đó nguyên liệu là một yếu tố quan trọng. Đối với nguyên liệu thì nguồn nguyên liệu hợp pháp, nguyên liệu có hệ số sử dụng cao là hết sức cần thiết. Trồng rừng theo tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững và trồng rừng gỗ lớn là 2 yếu tố đáp ứng được những yêu cầu đó.

Để thực hiện tốt được chứng chỉ rừng thì đầu tiên người dân phải hiểu được lợi ích của các sản phẩm gỗ được cấp chứng chỉ rừng sẽ có giá trị tăng 10 -15 % so với gỗ không có chứng chỉ. Đối với sản phẩm này, các thị trường sẽ được rộng mở, hồ sơ gỗ được minh bạch. Gỗ được cấp chứng chỉ cũng được ưu tiên số một trong việc thu mua của các công ty chế biến.

Trong thời gian vừa qua, chúng tôi cũng đã vận hành một hệ thống cấp chứng chỉ rừng của Việt Nam và sẽ đẩy mạnh hệ thống này trong thời gian tới. Hệ thống chứng chỉ rừng của Việt Nam và được quốc tế công nhận, sẽ giúp giảm giá thành trên một đơn vị diện tích, có thể giảm chi phí đến 1/3 so với việc thuê các tổ chức nước ngoài. Việc cấp chứng chỉ rừng của Việt Nam cũng giúp nâng được vị thế của quốc gia, tạo tính chủ động và đặc biệt là người dân sẽ có thêm sự lựa chọn phù hợp nhất với họ. Vì vậy việc đẩy mạnh hệ thống chứng chỉ rừng của Việt Nam là hết sức cần thiết.

- Xin ông cho biết những định hướng, giải pháp tạo đà cho ngành gỗ và lâm sản năm 2020?

- Để đạt được mục tiêu xuất khẩu lâm sản 11 tỷ USD trong năm 2019, 12-13 tỷ USD vào năm 2020, từ năm 2025 trở đi đạt từ 18 - 20 tỷ USD, ngành chế biến gỗ, lâm sản cần tiến hành đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp sau:

Một là, chú trọng đa dạng hóa chủng loại sản phẩm và phát triển thị trường xuất khẩu. Huy động mọi nguồn lực phát triển ngành công nghiệp chế biến gỗ, lâm sản theo hướng đa dạng hóa sản phẩm, phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu; ưu tiên phát triển các sản phẩm gỗ có giá trị kinh tế cao, là thế mạnh của Việt Nam để xuất khẩu như sản phẩm gỗ nội thất; các loại ván nhân tạo; các loại sản phẩm được làm từ phế liệu của ngành chế biến và mở rộng thị

Hai là, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển ngành công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản. Xây dựng và trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định về Hệ thống gỗ hợp pháp Việt Nam và kế hoạch triển khai thực hiện theo Hiệp định VPA/FLEGT.  Nghiên cứu, đề xuất ban hành một số cơ chế, chính sách để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, như: hạn chế xuất khẩu nguyên liệu gỗ thô; phát triển vùng nguyên liệu gỗ lớn; chính sách thuế khuyến khích doanh nghiệp nhập khẩu thiết bị, nguyên liệu để sản xuất vật liệu phụ trợ trong nước… Hỗ trợ doanh nghiệp phát triển thương hiệu gỗ Việt: xây dựng thương hiệu gỗ của các doanh nghiệp chế biến gỗ, xây dựng thương hiệu gỗ Việt và xây dựng kênh phân phối sản phẩm đồ gỗ Việt Nam tại một số thị trường như Mỹ, Nhật Bản, EU.

Ba là, chủ động nguồn nguyên liệu gỗ hợp pháp cho công nghiệp chế biến, xuất khẩu sản phẩm gỗ và lâm sản

Bốn là, phát triển cơ sơ hạ tầng phục vụ ngành công nghiệp chế biến gỗ. Trong đó, nghiên cứu hỗ trợ đầu tư xây dựng trung tâm triển lãm sản phẩm gỗ tại TP Hồ Chí Minh theo Chỉ thị số 08/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ kết hợp với xây dựng trung tâm thiết kế mẫu mã các loại sản phẩm gỗ phục vụ, hỗ trợ ngành công nghiệp chế biến gỗ phát triển. Xây dựng mới một số khu công nghệ cao về lâm nghiệp tại Bình Dương, Nghệ An thu hút doanh nghiệp chế biến gỗ, lâm sản đầu tư mở rộng sản xuất, kinh doanh.

Năm là, phát triển nguồn nhân lực và ứng dụng công nghệ cao vào ngành chế biến gỗ và lâm sản. Bên cạnh đó tập trung phát triển vùng nguyên liệu tập trung, xác định cụ thể cơ cấu loài cây trồng rừng, đặc biệt là những loài cây cung cấp gỗ lớn, đáp ứng được yêu cầu về nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu; chú trọng việc tuyển chọn giống cây trồng lâm nghiệp có năng suất, chất lượng cao, bảo đảm về nguồn gốc, xuất xứ để đưa vào trồng rừng… Gắn kết chặt chẽ giữa trồng rừng với thực hiện quản lý rừng bền vững và cấp chứng chỉ rừng để nâng cao giá trị sản phẩm trên 1 đơn vị sản xuất; vận hành tốt hệ thống chứng chỉ rừng quốc gia mà chúng ta đã tham gia và là thành viên hợp tác thứ 50 với Chương trình chứng nhận chứng chỉ rừng quốc tế (PEFC) nhằm nâng cao uy tín, thương hiệu chứng chỉ rừng của Việt Nam, thương hiệu của ngành gỗ Việt Nam trên trường quốc tế.

- Xin cảm ơn ông!

Hoài thương ghi
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang