KINH TẾ
Cập nhật 22:59 | 23/08/2019 (GMT+7)
.

Tạo sức bật cho logistics

07:59 | 12/08/2019
Theo Báo cáo của Bộ Công thương về tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển logistics Việt Nam, cả nước có 4.000 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này nhưng phần lớn quy mô nhỏ, chất lượng nguồn nhân lực yếu. Bên cạnh đó, vẫn còn nhiều điểm nghẽn khiến ngành logistics nếu không phát huy được vai trò thì bản thân chi phí logistics cũng trở thành gánh nặng cho nền kinh tế và sự phát triển bền vững.

Nhiều doanh nghiệp quy mô nhỏ

Báo cáo dẫn số liệu từ Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam (VLA) cho biết, cùng với tốc độ tăng trưởng GDP, giá trị sản xuât công nghiệp, kim ngạch xuất nhập khẩu, trị giá bán lẻ hàng hóa, dịch vụ và hạ tầng giao thông, thời gian vừa qua, dịch vụ logistics của Việt Nam có tốc độ tăng trưởng tương đối cao, đạt 12 - 14%, tỷ lệ doanh nghiệp thuê ngoài dịch vụ logistics đạt khoảng 60 - 70%, đóng góp khoảng 4 - 5% GDP. Hiện cả nước có khoảng 4.000 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực logistics, trong đó 70% tập trung ở TP Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận. Các doanh nghiệp logistics Việt Nam chủ yếu quy mô nhỏ, tới 90% doanh nghiệp khi đăng ký có vốn dưới 10 tỷ đồng (thấp hơn mức vốn đăng ký bình quân của doanh nghiệp cả nước), 1% có mức vốn trên 100 tỷ đồng, 1% có mức vốn từ 50 - 100 tỷ đồng, 3% có mức vốn từ 20 - 50 tỷ đồng, và 5% có mức vốn từ 10 - 20 tỷ đồng. Có tới 2.000 doanh nghiệp logistics là công ty TNHH một thành viên cũng cho thấy quy mô nhỏ bé.

4.000 doanh nghiệp nhưng chỉ gần 400 doanh nghiệp tham gia Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam (VLA). Theo thống kê của VLA, những doanh nghiệp hội viên đại diện trên 60% thị phần cả nước, bao gồm nhiều doanh nghiệp hàng đầu trong ngành. Điều này cho thấy, doanh nghiệp lớn có thị phần tốt có xu hướng chú trọng tới liên kết mạng lưới hơn doanh nghiệp nhỏ.

Phó Tổng thư ký VLA Nguyễn Tương cho biết, ngành dịch vụ logistics có tốc độ tăng trưởng rất nhanh thời gian qua. “Tuy nhiên, khó khăn, hạn chế lớn nhất hiện nay là kết cấu hạ tầng phục vụ cho ngành logistics. Khâu vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ, đường sông và đường sắt còn khó khăn”, ông Nguyễn Tương nhấn mạnh.

Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu Trần Thanh Hải thừa nhận ngành logistics còn một số “điểm nghẽn”. Trước hết là hạ tầng cho logistics, đặc biệt là về hạ tầng đường bộ, hàng không; thiếu sự kết nối giữa các phương tiện vận tải. Bên cạnh đó, chi phí vận chuyển khá cao, phần lớn hàng hóa vận chuyển bằng đường bộ. Việc cắt giảm chi phí logistics rất khó khăn, khi chúng ta chưa khai thác và đẩy mạnh các phương tiện đường thủy, đường sắt.


Cung cấp cácc dịch vụ logistics tại cảng Đình Vũ, Hải Phòng Ảnh: Thành Nam

Tăng cường quản lý

Theo báo cáo của Bộ Công thương, nhân lực logistics vẫn là khâu thiếu và yếu, nhất là về ngoại ngữ, năng lực quản lý. Từ năm 2015 - 2030, cả nước cần tới 200 nghìn nhân sự cho ngành này. Hiện nay, đào tạo nhân sự logistics có ở cả 3 cấp đại học, cao đẳng và trung cấp, nhưng chủ yếu là Cao đẳng và Trung cấp, với quy mô hàng năm từ 3.500- 5.000 học viên và 10.000 - 15.000 lượt người ở các trình độ sơ cấp và đào tạo ngắn hạn dưới 1 tháng.

Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong logistics của doanh nghiệp hiện còn ở mức rất khiêm tốn, chủ yếu phục vụ khai báo hải quan và theo dõi, giám sát phương tiện. Tuy nhiên, các doanh nghiệp, trung tâm logistics đang nỗ lực để đổi mới hoạt động. Ngoài các chức năng chính gồm bảo quản, dán nhãn, đóng gói, chia tách, xử lý hàng hóa, chuẩn bị đơn đặt hàng, các trung tâm logistics đang chuyển sang ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hàng hóa, theo dõi, truy xuất vị trí. Một số trung tâm logistics chuyên dùng được tự động hóa gần như hoàn toàn, như các trung tâm logistics của Samsung, Unilever, P&G, Vinamilk, Masan. Các trung tâm logistics lớn hiện nay tập trung ở khu vực Hải Phòng, Đồng Nai và Bình Dương, áp dụng hệ thông quản lý hiện đại thuộc các doanh nghiệp Gemadept, TBS, Tân Cảng Sài Gòn, Transimex, Mapletree, Damco, DHL, Kerry Express, Viettel Post.

Một điểm đáng lưu ý là cả nước có 45 trung tâm logistics tại 9 tỉnh, thành phố nhưng đa phần là trung tâm logistics hạng II (cấp vùng), chưa phát triển đúng định hướng theo Quyết định số 1012/QĐ-TTg ban hành năm 2015 là phát triển các Trung tâm cấp I (cấp quốc gia) để trên cơ sở đó phát triển các Trung tâm hạng II.

Để tạo điều kiện phát triển cho logistics thời gian tới, từ góc độ của Bộ Công thương, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh từng chia sẻ, trong quản lý nhà nước các lĩnh vực công nghiệp, thương mại, dịch vụ… Bộ Công thương đang và sẽ tiếp tục làm tốt, nỗ lực thực hiện những cải cách về mặt thể chế cũng như các khuôn khổ pháp luật và công tác quản lý nhà nước, từ đó tạo ra sự phân cấp theo hướng thông thoáng, minh bạch, công khai, rõ ràng, ổn định, để không chỉ môi trường đầu tư kinh doanh nói chung, mà hoạt động của doanh nghiệp trong lĩnh vực logistics cũng sẽ được thuận lợi.

Đồng thời, Bộ Công thương sẽ tiếp tục đào tạo và hỗ trợ địa phương về nguồn nhân lực cũng như quản lý nhà nước trong các lĩnh vực về logistics, để từ đó các địa phương có điều kiện thực hiện một cách đầy đủ và toàn diện không chỉ Nghị quyết số 45-NQ/TW của Bộ Chính trị mà cả Quyết định số 200/QĐ-TTg của Thủ tướng và chương trình hành động trong các nghị quyết mới của Chính phủ về phát triển logistics.

Từ thực tiễn quá trình điều hành hoạt động, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh nhấn mạnh, Bộ Công thương cần tiếp tục phát huy và thể hiện tốt vai trò của mình, nhất là trong phối hợp với các bộ, ngành để xử lý những vấn đề mà địa phương đang vướng mắc hay có nhu cầu. Ví dụ, làm sao có cơ chế điều hành thống nhất của Chính phủ để có sự kết nối, phối hợp chặt chẽ tất cả hoạt động của các bộ, ngành trong các lĩnh vực có liên quan đến hoạt động phát triển logistics, trong đó bao gồm cả về môi trường, hạ tầng...

Cuối cùng là cơ chế, chính sách hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam, nhất là doanh nghiệp logistics có điều kiện để phát triển, liên quan đến công nghệ, tín dụng, nguồn nhân lực… Dựa trên nền tảng khuôn khổ và cơ sở pháp lý mới được điều chỉnh và bổ sung để tạo điều kiện cho doanh nghiệp, nhưng mặt khác, cơ chế, chính sách và cách điều hành của Chính phủ bảo đảm kết nối mạnh mẽ hơn và tương tác tốt hơn giữa cộng đồng doanh nghiệp logistics, giữa chủ hàng với hãng vận tải và cơ quan công quyền để tạo ra môi trường thuận lợi thúc đẩy phát triển…

Thành Nam
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang