KINH TẾ
Cập nhật 22:17 | 23/08/2019 (GMT+7)
.

Nợ nước ngoài tăng nhanh ở diện doanh nghiệp “tự vay, tự trả”

07:51 | 10/08/2019
Quy mô nợ nước ngoài của quốc gia tăng nhanh trong giai đoạn 2011 - 2017, chủ yếu là nợ của doanh nghiệp và các tổ chức tài chính, tín dụng theo hình thức tự vay tự trả - hiện chiếm 48,4% tổng nợ. Đây là thông tin Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ nêu trong cuộc họp sáng 9.8 với lãnh đạo một số bộ, ngành và Ủy ban Giám sát tài chính tiền tệ quốc gia nhằm đánh giá tình hình nợ nước ngoài quốc gia và việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp.

Nợ nước ngoài vẫn trong tầm kiểm soát

Bộ Tài chính cho biết, đến cuối năm 2017, nợ nước ngoài của quốc gia so với tổng sản phẩm quốc nội (GDP) ở mức 48,9%; đến 31.12.2018 giảm còn khoảng 46%, trong đó cơ cấu nợ nước ngoài quốc gia đều giảm. Cụ thể, nợ nước ngoài của Chính phủ còn 19,3% GDP, nợ nước ngoài của Chính phủ bảo lãnh còn 4,4% GDP, nợ nước ngoài tự vay tự trả của doanh nghiệp còn 22,3% GDP. Tỷ lệ trả nợ so với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ khoảng 25%, bảo đảm các quy định và thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, đáng chú ý là trong giai đoạn 2011 - 2017, chỉ tiêu nợ nước ngoài của quốc gia so với GDP có xu hướng tăng nhanh, bình quân tăng 16,7%/năm, cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP theo giá hiện hành là 13%/năm trong cùng giai đoạn.


Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ phát biểu tại cuộc họp

Với kết quả này, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ khẳng định chỉ tiêu nợ nước ngoài của quốc gia dưới mức trần được QH cho phép (50%) và đang trong tầm kiểm soát của Chính phủ. Đặc biệt, nợ nước ngoài của Chính phủ giảm rất mạnh, tốc độ tăng nợ rất thấp. Còn nợ nước ngoài Chính phủ bảo lãnh chiếm tỷ trọng nhỏ và xu hướng giảm. Phó Thủ tướng cho rằng quy mô nợ nước ngoài tăng nhanh chủ yếu là nợ của doanh nghiệp và các tổ chức tài chính, tín dụng theo hình thức tự vay tự trả - hiện chiếm 48,4% tổng nợ nước ngoài quốc gia so với tỷ lệ 25,6% năm 2011 và 40,4% của năm 2016. Việc tăng nhanh nợ nước ngoài theo hình thức tự vay tự trả chủ yếu nằm ở khối doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (chiếm 76% tổng lượng nợ của doanh nghiệp), tập trung ở một số doanh nghiệp có quy mô lớn.

“Việc tăng nợ nước ngoài tuy đáp ứng được nhu cầu vốn và huy động nguồn lực cho phát triển kinh tế- xã hội và tăng trưởng nhưng cũng tác động tới khả năng trả nợ”, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ cho biết. Để bảo đảm an toàn nợ công nói chung và nợ nước ngoài của quốc gia nói riêng, cũng như ổn định kinh tế vĩ mô, Phó Thủ tướng đề nghị các bộ, ngành tăng cường điều hành, quản lý nợ theo quy định của pháp luật như Luật Quản lý nợ công, các Nghị quyết chuyên đề của QH, Chính phủ về nợ công nhằm bảo đảm đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế nói chung chứ không chỉ đáp ứng nhu cầu vốn tự thân của doanh nghiệp, bảo đảm quyền và nghĩa vụ của các doanh nghiệp nói chung.

Trái phiếu doanh nghiệp: Không kiểm soát tốt sẽ rủi ro

Về trái phiếu doanh nghiệp, Bộ Tài chính cho biết 6 tháng đầu năm 2019, tổng mức phát hành là 116.085 tỷ đồng, tăng 7,4% so với cùng kỳ 2018. Trong đó, ngân hàng thương mại phát hành 36.700 tỷ đồng (chiếm 36%), doanh nghiệp bất động sản phát hành 22.122 tỷ đồng (19%), lượng phát hành của công ty chứng khoán chiếm 3,5%, còn lại là các doanh nghiệp khác. Lãi suất trái phiếu doanh nghiệp bình quân 9,5% - 11%/năm, nhìn tổng thể là bằng và cao hơn khoảng 0,5% so với mức cho vay phổ biến của các ngân hàng thương mại. Quy mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp tới hết tháng 6.2019 có mức vốn hóa bằng 10,22% GDP, tăng 21% so với cùng kỳ 2018, vượt mục tiêu đạt 7% GDP vào năm 2020.

Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ đánh giá thị trường trái phiếu doanh nghiệp phát triển nhanh trong thời gian qua vì các doanh nghiệp có nhu cầu vốn lớn để sản xuất kinh doanh, trong khi tăng trưởng tín dụng có xu hướng được quản lý chặt chẽ hơn, nhất là các lĩnh vực còn nhiều rủi ro như bất động sản. Mặt tích cực là trái phiếu doanh nghiệp từng bước thành kênh cung vốn trung, dài hạn cho doanh nghiệp, giảm bớt áp lực cho vay của các ngân hàng. Kỳ hạn phát hành trái phiếu doanh nghiệp dài (kỳ hạn 5 năm chiếm 66% tổng khối lượng phát hành). Các nhà đầu tư chủ yếu là nhà đầu tư có tổ chức, tỷ lệ nhà đầu tư cá nhân chỉ chiếm 6,1%.

Tuy nhiên, Phó Thủ tướng cho rằng nếu không kiểm soát tốt việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp sẽ có rủi ro, ảnh hưởng tới thị trường tín dụng và cân đối vĩ mô. “Lãi suất một số đợt phát hành cao từ 13 - 14%, cá biệt có doanh nghiệp bất động sản phát hành tới 14 - 15% cao hơn lãi suất cho vay của ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng khác. Tổ chức phát hành trái phiếu doanh nghiệp hầu như chưa được xếp hạng tín nhiệm nên tiềm ẩn rủi ro cho nhà đầu tư, nhất là nhà đầu tư cá nhân không đủ thông tin phân tích rủi ro. 70% doanh nghiệp phát hành trái phiếu sử dụng tài sản và tài sản hình thành từ nguồn hình thành trái phiếu nhưng chưa được định giá bởi tổ chức định giá độc lập và khó xác minh các tranh chấp pháp lý. Vốn huy động có thể sử dụng chưa đúng mục đích do chưa có báo cáo sử dụng vốn có ý kiến của kiểm toán theo quy định của Nghị định 163/2018/NĐ-CP. Và 98% các đợt phát hành là riêng lẻ”, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ khái quát.

Bên cạnh việc hoàn thiện, phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp trong trung và dài hạn, Phó Thủ tướng giao Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành tiếp tục hoàn thiện dự thảo Luật Chứng khoán theo ý kiến của UBTVQH và chỉ đạo của Thủ tướng, trong đó rà soát quy định cụ thể phát hành trái phiếu riêng lẻ theo hướng chỉ dành cho nhà đầu tư chuyên nghiệp có năng lực phân tích tài chính và khả năng đánh giá rủi ro.

Thành Nam
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang