KINH TẾ
Cập nhật 11:52 | 12/11/2019 (GMT+7)
.
Cơ chế vốn Nhà nước trong dự án PPP:

Khó thiết kế một quy trình khả thi

07:56 | 17/06/2019
Phần đầu tư của Nhà nước tham gia trong dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP) hiện nay chủ yếu được bố trí từ nguồn vốn đầu tư công nên thiếu linh hoạt và có nhiều vướng mắc. Trong quá trình xây dựng dự án Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP), Ban soạn thảo đề xuất 2 phương án về phần vốn này nhưng cũng thừa nhận cả 2 phương án đều có những hạn chế, gây nghi ngại về tính khả thi.

Thiếu linh hoạt trong bố trí vốn

Do phần Nhà nước tham gia trong dự án PPP hiện chủ yếu được bố trí từ nguồn vốn đầu tư công nên cần phải được tổng hợp trong kế hoạch đầu tư công trung hạn và hàng năm. Điều này dẫn đến sự thiếu linh hoạt trong bố trí vốn, bởi phần vốn đầu tư công trong dự án PPP thay đổi theo từng phương án tài chính, phân chia rủi ro và chỉ được xác định chính xác sau khi đã đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư. Đồng thời, nếu thực hiện theo cơ chế hiện hành sẽ ảnh hưởng tới việc thu hút các nhà đầu tư do chưa thấy được sự bảo đảm từ phía Chính phủ.

Tại dự thảo Tờ trình dự án Luật PPP (bản tháng 5.2019), Ban soạn thảo chỉ ra 5 khó khăn, vướng mắc trong việc sử dụng vốn nhà nước cho dự án PPP khi áp dụng pháp luật về đầu tư công.

Đầu tiên, việc xác định mức vốn đầu tư công bố trí cho dự án ngay từ đầu giai đoạn trung hạn khi chưa tổ chức đấu thầu có thể không phù hợp. Các dự án PPP sau khi phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi thì cần một khoảng thời gian tương đối dài, thường là trên 12 tháng, để tổ chức đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư. Giá trị vốn đầu tư công tham gia vào dự án ở giai đoạn chủ trương đầu tư, phê duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi và sau khi đấu thầu có thể khác nhau. Đặc thù của dự án PPP cũng thay đổi theo từng phương án tài chính (do mỗi nhà đầu tư có cách tiếp cận riêng), và phân chia rủi ro chỉ xác định chính xác sau khi trúng thầu.

Tiếp đó,  việc bố trí vốn cho dự án cần trải qua nhiều giai đoạn/kế hoạch trung hạn. Tuy nhiên, trong khi việc thanh toán được thực hiện kéo dài suốt vòng đời dự án, có thể lên đến 20 - 30 năm thì việc lập kế hoạch đầu tư công trung hạn (bao gồm lập kế hoạch vốn cho các dự án) chỉ thực hiện trong giai đoạn 5 năm. Vì vậy, nhà đầu tư sẽ lo ngại không biết có được thanh toán trong giai đoạn trung hạn tiếp theo hay không.

Rủi ro nữa là có thể không đáp ứng được tiến độ dự án, lỡ mất cơ hội đầu đối với các dự án phát sinh giữa kỳ trung hạn. Các dự án đã có quyết định chủ trương đầu tư trong giai đoạn đầu kỳ trung hạn thì đủ điều kiện được cân đối và bố trí trong kế hoạch đầu tư công trung hạn; tuy nhiên, trường hợp phát sinh dự án giữa kỳ quy trình, thủ tục bổ sung danh mục dự án vào kế hoạch trung hạn tương đối phức tạp nên có thể không đáp ứng được tiến độ dự án.

Cơ chế bố trí vốn hiện hành cũng được cho là dễ dẫn đến vi phạm hợp đồng với nhà đầu tư. Trường hợp bố trí vốn đầu tư công trung hạn, hàng năm tuân thủ pháp luật về đầu tư công thì quy trình tổng hợp, bố trí và phân bổ cho dự án PPP có độ trễ nhất định so với tiến độ giải ngân phần Nhà nước tham gia trong dự án. Điều này thể hiện sự không tôn trọng hợp đồng mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã cam kết, ảnh hưởng đến việc thực hiện nghĩa vụ của phía Nhà nước trong hợp đồng PPP, dễ dẫn tới tranh chấp, khiếu kiện do lỗi của khu vực công.

Cuối cùng, một trong các nội dung được các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm là nội dung bảo lãnh Chính phủ. Bảo lãnh Chính phủ đối với các rủi ro (đặc biệt là rủi ro về doanh thu) được xem xét là nghĩa vụ nợ dự phòng của Chính phủ, chỉ phát sinh khi rủi ro xảy ra. Tháng 9 năm ngoái, Bộ Tài chính đã báo cáo Thủ tướng kết quả nghiên cứu cơ chế bảo lãnh Chính phủ thí điểm đối với các dự án giao thông trọng điểm. Theo đó, tính cần thiết của cơ chế này được khẳng định, nhưng vì cơ sở pháp lý về tổng hợp, cân đối, bố trí vốn cho các bảo lãnh này chưa có nên không thể triển khai áp dụng.

2 phương án đều gây nghi ngại

Từ những vướng mắc trên, Ban soạn thảo dự án Luật PPP cho rằng, việc tổng hợp, cân đối, bố trí phần vốn đầu tư của nhà nước tham gia thực hiện dự án PPP cần theo quy trình riêng - được thiết kế tại Luật PPP -  là hết sức cần thiết, tạo cơ chế thông thoáng, đẩy nhanh thu hút đầu tư PPP.

Cho đến thời điểm này, Ban soạn thảo đề xuất 2 phương án. Phương án 1 là hình thành Quỹ phát triển dự án PPP với các chức năng bố trí vốn nhà nước và cấp bảo lãnh. Ưu điểm của phương án này là tính linh hoạt, chủ động trong quản lý và sử dụng (bao gồm cả hoạt động huy động vốn và giải ngân vốn); tính sẵn sàng trong cam kết của Chính phủ từ nguồn vốn góp đến cơ chế bảo lãnh sẽ tăng tính hấp dẫn của dự án, thu hút các nhà đầu tư. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiệu quả của các quỹ hiện nay còn chưa đáp ứng được như kỳ vọng, dẫn đến còn nhiều nghi ngại về tính khả thi khi lập quỹ.

Phương án 2 là hình thành dòng ngân sách riêng trong kế hoạch đầu tư công trung hạn (tương tự dòng riêng cho Ngân hàng Chính sách xã hội hiện nay). Phương án này có ưu điểm là được đặt trong tổng thể cân đối vốn đầu tư công quốc gia, có thể tạo được sự đồng thuận từ Quốc hội; tuy nhiên, trong thực thi có thể vẫn bất cập bởi tính thiếu linh hoạt.

Đánh giá về 2 phương án này, Ban soạn thảo dự án Luật PPP cho rằng chúng đều có những hạn chế nhất định, dẫn đến tính khả thi cho một quy trình riêng trong việc tổng hợp, cân đối, bố trí phần vốn đầu tư của Nhà nước tham gia thực hiện dự án PPP cũng chưa có cơ sở để bảo đảm. 

Hà Lan
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang