KINH TẾ
Cập nhật 19:19 | 16/10/2019 (GMT+7)
.

Mới có 300 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu

07:28 | 03/06/2019
Theo số liệu của Bộ Công thương, trong số 1.800 doanh nghiệp sản xuất phụ tùng, linh kiện của cả nước, hiện chỉ có hơn 300 doanh nghiệp tham gia vào mạng lưới sản xuất của các tập đoàn đa quốc gia.

Phó Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công thương) Lê Hoàng Tài cho biết, Việt Nam đã tham gia ký kết 12 hiệp định thương mại tự do, kết thúc đàm phán 1 hiệp định và đang tiếp tục đàm phán 3 hiệp định khác. Các hiệp định này đã và đang mở ra thị trường rộng lớn cho các doanh nghiệp đầu tư tại Việt Nam. Họ có thể vừa tận dụng lợi thế về chi phí sản xuất hợp lý tại nước ta, vừa tận dụng lợi thế về thuế quan và mở cửa thị trường để dễ dàng tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Chính điều này lại mở rộng cánh cửa với những doanh nghiệp Việt Nam đang hoạt động trong ngành công nghiệp hỗ trợ.

Theo thống kê của Bộ Công thương, số doanh nghiệp đang hoạt động trong ngành công nghiệp hỗ trợ chiếm gần 4,5% tổng số doanh nghiệp của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; tạo việc làm cho hơn 550 nghìn lao động. Nhờ khả năng cung cấp một số linh kiện, phụ tùng cho các ngành công nghiệp trong nước, tỷ lệ nội địa hóa của một số ngành công nghiệp đã được cải thiện. Ngành điện tử gia dụng đạt 30 - 35% nhu cầu linh kiện; điện tử phục vụ các ngành ô tô - xe máy đạt khoảng 40% - chủ yếu cho sản xuất xe máy.

Tuy nhiên, cả nước có khoảng 1.800 doanh nghiệp sản xuất phụ tùng, linh kiện thì chỉ có hơn 300 doanh nghiệp tham gia vào mạng lưới sản xuất của các tập đoàn đa quốc gia. Trong đó, ngành dệt may, da giày mới chỉ đạt 40 - 45%; ngành sản xuất, lắp ráp ô tô mới đạt 7 - 10%;  điện tử, viễn thông đạt 15%, điện tử chuyên dụng và các ngành công nghệ cao chỉ đạt 5%.

Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam Trương Thị Chí Bình cho rằng, số doanh nghiệp trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo quá thiếu, đặc biệt là ngành công nghiệp hỗ trợ. Ngay cả với doanh nghiệp mạnh nhất thì vấn đề đặt ra vẫn là giảm chi phí để đáp ứng được yêu cầu của đối tác. “Doanh nghiệp Việt rất giỏi khi tham gia vào được mạng lưới sản xuất, bởi họ “tay không bắt giặc”, không phải “sân sau” của ai mà hoàn toàn dùng năng lực và sự cố gắng của mình”, bà Bình nói. Tuy nhiên, thị trường đến một lúc nào đó sẽ bão hòa, muốn tiếp tục theo đuổi cuộc chơi và mở rộng quy mô thì họ phải thay đổi. “Khó khăn nhất vẫn là phải giảm được giá thành sản xuất. Muốn vậy thì quản trị phải tinh gọn, đạt được chứng chỉ quốc tế, quy trình sản xuất phải tiết kiệm chi phí, nhân lực nhất có thể. Đối với doanh nghiệp cung ứng, bất kể ở lĩnh vực sản xuất nào thì yếu tố quyết định vẫn là con người. Do vậy, doanh nghiệp Việt Nam phải chú trọng đào tạo nhân lực, chia sẻ những kinh nghiệm công nghệ, thường xuyên trao đổi thông tin với đối tác, khi đó sẽ tìm hiểu được những mong muốn, nhu cầu của nhau.

Ông Hironobu Kitagawa, Trưởng đại diện Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản (JETRO) tại Hà Nội cho rằng, chính sách hỗ trợ ngành công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam cần phải rõ ràng hơn và thể hiện được là Chính phủ muốn tập trung trong lĩnh vực nào. “Tôi đánh giá cao công nghệ của Việt Nam và kỹ năng kỹ thuật của người Việt Nam đã được nâng lên. Nếu có mục tiêu rõ ràng hơn thì chắc chắn sẽ phát huy được lĩnh vực này”, ông Hironobu Kitagawa nói.

An Thiện
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang