KINH TẾ
Cập nhật 10:33 | 19/11/2019 (GMT+7)
.

Thúc đẩy liên kết sản xuất, tiêu thụ lúa

07:42 | 23/05/2019
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng sản xuất lúa trọng điểm của cả nước, phục vụ cả tiêu thụ nội địa và xuất khẩu nhưng hầu hết người trồng lúa ở đây vẫn nằm trong diện thu nhập thấp và trung bình. Việc xây dựng mô hình liên kết sản xuất, tiêu thụ lúa còn nhiều hạn chế, chưa ổn định, thậm chí có chiều hướng giảm sút trong thời gian gần đây.

Tỷ lệ lúa tiêu thụ qua hợp đồng liên kết rất thấp

Theo thống kê của Cục Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn trong năm 2018 cả nước có 6.800 mô hình với khoảng 1 triệu hecta diện tích liên kết. Nổi bật là mô hình “cánh đồng lớn” với hơn 516 nghìn hecta trồng lúa và 619 nghìn hộ tham gia. Riêng tại  ĐBSCL, “cánh đồng lớn” liên kết sản xuất lúa có khoảng 380 nghìn hecta, chiếm 9,2% diện tích gieo trồng lúa. Theo tính toán, mỗi hecta lúa tham gia “Cánh đồng lớn” có thể giảm chi phí sản xuất từ 10 - 15%, sản lượng tăng từ 20 - 25%, thu lãi thêm 2,2 - 7,5 triệu đồng.

Tuy nhiên, hiện nay việc hợp tác, liên kết sản xuất lúa nói chung và “cánh đồng lớn” nói riêng ở nhiều nơi vẫn mang tính hình thức nên chưa thu hút hộ nông dân tự nguyện tham gia, đầu ra cho hạt lúa chưa thật sự ổn định. Ông Trần Văn Khởi, quyền Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, cho biết tỷ lệ lúa được tiêu thụ qua hợp đồng liên kết còn rất thấp, hầu hết nông dân vẫn phải bán lúa qua thương lái. Nông dân và doanh nghiệp chưa tìm được tiếng nói chung để cùng chia sẻ lợi ích cũng như rủi ro trong sản xuất, kinh doanh. Tình trạng “bẻ kèo”, tranh chấp trong mua bán giữa người sản xuất và các đầu mối tiêu thụ chưa dứt. Nhiều nơi người dân không tuân thủ quy trình kỹ thuật sản xuất của doanh nghiệp yêu cầu.

Bên cạnh đó, việc thiếu các tổ chức nông dân đủ mạnh như các hợp tác xã  nông nghiệp tham gia vào chuỗi liên kết cũng khiến người trồng lúa chủ yếu vẫn phải tự sản xuất và bán sản phẩm cho thương lái, chịu nhiều thua thiệt, rủi ro. Theo báo cáo của Cục kinh tế Hợp tác, đến hết tháng 3.2019, toàn vùng ĐBSCL có khoảng 1.800 hợp tác xã, chiếm 11,4% tổng số hợp tác xã của cả nước; trong đó có 1.143 hợp tác xã trồng trọt (chủ yếu là hợp tác xã trồng lúa). Quy mô diện tích một hợp tác xã trung bình là 324ha. Như vậy, các hợp tác xã trồng lúa ở ĐBSCL mới chỉ “sở hữu” hơn 370 nghìn hecta lúa trong khi toàn vùng có 1,9 triệu hecta đất trồng lúa, diện tích gieo trồng hàng năm khoảng 4,2 triệu hecta.

Nâng số lượng, chất lượng hợp tác xã

Tại Diễn đàn khuyến nông với chủ đề “liên kết sản xuất lúa” do Trung tâm Khuyến nông Quốc gia tổ chức tại TP Cần Thơ vào trung tuần tháng 5 vừa qua, nhiều ý kiến cho rằng, để việc hợp tác, liên kết sản xuất lúa thêm hiệu quả và bền vững, các địa phương cần tiếp tục rà soát điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch chuyển đổi cơ cấu giống lúa sao cho phù hợp với lợi thế, cầu thị trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Đồng thời, tiếp tục phát triển các vùng sản xuất lúa hàng hóa tập trung, quy mô lớn; khuyến khích sản xuất lúa sạch, hữu cơ gắn với chế biến tiêu thụ và xây dựng thương hiệu lúa gạo nhằm nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững…

Là một trong những địa phương có diện tích sản xuất lúa lớn nhất vùng ĐBSCL, An Giang đã thực hiện khá tốt việc liên kết chuỗi trong sản xuất, mang lại hiệu quả cao trong sản xuất nông nghiệp. Bà Võ Thị Thanh Vân, Phó Giám đốc Sở NN - PTNT An Giang chia sẻ kinh nghiệm phát triển các chuỗi liên kết sản xuất giữa doanh nghiệp và nông dân, xây dựng thị trường nông sản ổn định, đó là: “Tích cực mời gọi, hỗ trợ các doanh nghiệp có tiềm năng để tham gia đầu tư và ký kết hợp đồng tiêu thụ nông sản. Tập trung nâng chất lượng các hợp tác xã nông nghiệp hiện có, thành lập mới các hợp tác xã nông nghiệp tại các địa bàn có triển khai liên kết theo chuỗi giá trị. Thường xuyên tập huấn cho hộ nông dân, tổ hợp tác và hợp tác xã về các kỹ năng”.

Theo ông Nguyễn Tấn Nhơn, Phó Giám đốc Sở NN - PTNT TP Cần Thơ, ngành nông nghiệp và chính quyền địa phương cần tập trung huy động nguồn lực, kiên trì tổ chức lại sản xuất theo hướng hợp tác hóa, xây dựng lại vùng sản xuất, vùng nguyên liệu gắn với doanh nghiệp và thị trường. Trong đó, Nhà nước cần có chính sách khuyến khích doanh nghiệp có đủ năng lực tham gia vào mô hình liên kết sản xuất - tiêu thụ thông qua hợp đồng; chính sách hỗ trợ đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng vùng nguyên liệu tập trung theo quy hoạch. Đồng thời, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các bộ ngành và địa phương tạo vị thế cạnh tranh ổn định cho nông sản trên thị trường nội địa và xuất khẩu để bảo đảm đầu ra cho nông dân.

“Phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản là tiền đề cho một nền nông nghiệp phát triển bền vững”, ông Đỗ Minh Nhựt, Phó Giám đốc Sở NN - PTNT Kiên Giang nhấn mạnh. Ông cho rằng việc xây dựng “cánh đồng lớn” giúp chuyển nhanh từ sản xuất nông nghiệp nhỏ, manh mún sang sản xuất hàng hóa tập trung, quy mô lớn, hiệu quả cao, gắn với quy hoạch xây dựng nông thôn mới, chỉnh trang đồng ruộng, quy hoạch giao thông nội đồng, quy hoạch vùng sản xuất nông sản hàng hóa. Bên cạnh đó, cần hình thành nhóm hộ sản xuất cùng áp dụng đồng bộ các tiến bộ kỹ thuật để tạo một chuỗi sản xuất hợp lý, tiết kiệm chi phí, bảo vệ môi trường, tạo ra sản phẩm an toàn với số lượng lớn, chất lượng cao, đồng nhất và có giá trị cao. 

Hiền Dung
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang