KINH TẾ
Cập nhật 11:28 | 28/02/2020 (GMT+7)
.

Đầu tư công nghệ như “leo cột mỡ”

07:44 | 27/04/2019
“Nguyên tắc trong đầu tư công nghệ như trò chơi leo cột mỡ, 10 anh leo thì có đến 9 anh rơi. Chính vì thế, doanh nghiệp trong nước có thể cung cấp thiết bị, phụ tùng cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) không nhiều”. Giám đốc Trung tâm Phân tích và dự báo, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (VASS) Nguyễn Thắng chia sẻ tại Hội thảo công bố báo cáo Năng suất và cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam phần 1: Ngành công nghiệp chế tạo, tổ chức sáng qua 26.4.

Năng suất lao động bằng ¼ Malaysia

 Báo cáo “Năng suất và cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam phần 1: Ngành công nghiệp chế tạo” do Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam và Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) thực hiện. Báo cáo tiến hành phân tích dữ liệu từ các cuộc điều tra khảo sát doanh nghiệp của Tổ chức Phát triển công nghiệp Liên Hợp Quốc và Tổng cục Thống kê, sử dụng các chỉ số khác nhau (doanh thu, việc làm, giá trị gia tăng, xuất khẩu ròng, liên kết ngược - xuôi giữa các doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước) để mô tả các đặc điểm chính của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.

Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Vũ Đại Thắng xác nhận, báo cáo nghiên cứu có thể được xem là một trong những thông tin đầu vào quan trọng cho quá trình xây dựng Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2030 và Kế hoạch Phát triển kinh tế - xã hội 2021 - 2025.

“Mặc dù ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đã có sự cải thiện rõ rệt về năng suất và khả năng cạnh tranh trong những năm gần đây, song khoảng cách với các nước so sánh (các nước có thu nhập trung bình và các nước phát triển) vẫn còn lớn”, báo cáo chỉ rõ. Thực tế cho thấy, chỉ số cạnh tranh công nghiệp, xuất khẩu công nghiệp chế tạo và chỉ số lợi thế so sánh hiện hữu (RCA) của Việt Nam đã liên tục được cải thiện so với các nước trong khu vực. Song, trong các chỉ số hiệu suất công nghiệp chế biến, chế tạo khác, đặc biệt là năng suất lao động, Việt Nam tụt lại sau các nước so sánh, mặc dù đã có bước cải thiện từ thứ hạng gần 100 (năm 1990) lên hạng gần 40 (năm 2015). Theo đó, năng suất lao động trong ngành chế biến, chế tạo chỉ bằng ¼ của Trung Quốc và Malaysia, bằng 1/3 của Indonesia và Philipplines, bằng 7% của Nhật Bản và Hàn Quốc.

Mặt khác, trong khi cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ 4 tăng tốc, tạo nguy cơ mất việc làm có kỹ năng đơn giản và lặp đi lặp lại do tự động hóa trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thì phần lớn các doanh nghiệp ở Việt Nam có mức độ sẵn sàng với cuộc cách mạng này còn thấp. Điều này cũng tác động tới năng suất lao động trong ngành.

Cũng theo báo cáo, năng suất và khả năng cạnh tranh khác nhau đáng kể giữa các tiểu ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Các tiểu ngành có năng suất lao động cao hơn vào năm 2011 đã có mức tăng trưởng tương ứng thấp hơn trong giai đoạn 2011 - 2016, tái khẳng định giảm dư địa tăng trưởng năng suất lao động nhờ thay đổi cơ cấu và chỉ ra cần tập trung vào các yếu tố “nội - ngành” để tăng trưởng năng suất lao động trong tương lai. Tỷ lệ giá trị gia tăng - đầu ra của Việt Nam “trong tầm với” tới các nước so sánh trong một số tiểu ngành như đồ gỗ, các phương tiện giao thông khác, xe có động cơ, điện tử…

Hiện, theo loại hình sở hữu, khu vực FDI thuộc nhóm doanh nghiệp lớn nhất trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo với 16/24 tiểu ngành và 4/5 tiểu ngành xuất khẩu hàng đầu. Mặc dù vậy, liên kết giữa các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước vẫn yếu.

Đánh giá về khả năng cạnh tranh của các tiểu ngành chế biến, chế tạo, nhóm nghiên cứu cho rằng, các tiểu ngành xuất khẩu hàng đầu là điện tử, da giày, dệt may, sản xuất đồ gỗ, chế biến thực phẩm và đồ uống. Các tiểu ngành đóng góp cho xuất khẩu là các phương tiện đi lại khác, in ấn, thuốc lá, gỗ (không bao gồm đồ gỗ), các sản phẩm khoáng sản phi kim loại.

Toàn cảnh hội thảo Ảnh: Đan Thanh

Nâng cao năng suất là trung tâm chiến lược tăng trưởng

Để nâng cao năng suất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, các nhà nghiên cứu của VASS khuyến nghị, Việt Nam cần đặt nâng cao năng suất và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành này là trung tâm của chiến lược tăng trưởng. Đồng thời, những nỗ lực cải cách doanh nghiệp nhà nước cần tập trung vào việc tăng cường hiệu quả và hiệu suất, gia tăng các mối liên kết xuôi - liên kết ngược với các doanh nghiệp khác trong nước. Đầu tư công nên hướng tập trung vào khuyến khích gia tăng thay vì chèn lấn đầu tư khu vực tư nhân trong nước…

Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam Bùi Quang Tuấn tỏ ý băn khoăn về việc tăng cường liên kết, đặc biệt là liên kết ngược. Lý do bởi văn hóa ở các nước châu Á “phụ thuộc nhiều vào mối quan hệ” chứ chưa hẳn là dựa vào năng suất, chất lượng. Song, đại diện cho nhóm nghiên cứu, Giám đốc Trung tâm Phân tích và dự báo VASS Nguyễn Thắng cho rằng chúng ta vẫn có thể làm được. Theo ông, trước tiên, phải sàng lọc doanh nghiệp FDI để bảo đảm chọn lựa được doanh nghiệp có tiêu chuẩn chặt chẽ về môi trường, công nghệ, “loại các doanh nghiệp làm ăn chộp giật”. Thứ nữa, các doanh nghiệp trong nước cần chứng tỏ được lợi thế của mình, “hãy bắt đầu từ những linh kiện đơn giản, dần dần tiến tới làm linh kiện phức tạp hơn”, ông Thắng đề xuất.

Cũng theo vị chuyên gia này, muốn có nhà đầu tư FDI tốt cần phải có thể chế chính sách tốt, tức là không phải chỉ rà soát chính sách FDI mà quan trọng hơn phải đưa Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư chất lượng. Muốn vậy, phải tạo điều kiện cho các nhà đầu tư vào Việt Nam trong dài hạn; sẵn sàng đáp ứng cho các nhà đầu tư FDI chất lượng cao về hạ tầng cơ sở, logistics cũng như nguồn nhân lực chất lượng cao.

Về phía doanh nghiệp trong nước, nhiều ý kiến tỏ ra lo ngại về năng lực, trình độ công nghệ có ảnh hưởng tới việc tăng cường tính liên kết. Ông Thắng thừa nhận, để đầu tư phát triển công nghệ rất cần có những doanh nhân dám dấn thân. Hiện, đầu tư cho công nghệ luôn đứng số 1 trong những lĩnh vực đầu tư mạo hiểm và rủi ro. “Nguyên tắc trong đầu tư công nghệ như trò chơi leo cột mỡ, 10 anh leo thì có đến 9 anh rơi. Chính vì thế, doanh nghiệp trong nước có thể cung cấp thiết bị, phụ tùng cho các doanh nghiệp FDI không nhiều. Rủi ro nhất là khi các doanh nghiệp FDI thường yêu cầu các đơn hàng rất lớn, lãi suất rất to nhưng chỉ cần một lý do nhỏ nào đó, họ sẵn sàng từ chối là bao nhiêu công sức đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam vứt đi hết”, ông nói. Do đó, theo ông, cần thay đổi xác xuất tỷ lệ đầu tư thất bại bằng hệ sinh thái lớn hơn. Cụ thể, thay vì để 10 doanh nghiệp đầu tư công nghệ thì tăng lên 1.000 doanh nghiệp để nếu có 900 doanh nghiệp rơi rụng vẫn còn 100 doanh nghiệp tạo ra hiệu ứng lan tỏa lớn cho nền kinh tế.

Đan Thanh
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang