KINH TẾ
Cập nhật 08:00 | 19/08/2019 (GMT+7)
.

Nên để khách hàng và công ty tài chính tự thỏa thuận hình thức giải ngân

13:50 | 10/04/2019
Trong bối cảnh “tín dụng đen” diễn biến phức tạp, việc phát triển tín dụng tiêu dùng sẽ góp phần đẩy lùi hiện tượng biến tướng này; đồng thời thúc đẩy thị trường nội địa, đẩy mạnh tiêu dùng trong nước. Theo đó, cơ quan quản lý Nhà nước cần tiếp tục tạo hành lang thông thoáng cho các công ty tài chính phát triển.

Những bất cập trong phân biệt hình thức giải ngân cho vay tiêu dung

Mới đây, Ngân hàng Nhà nước đang lấy ý kiến dự thảo thông tư sửa đổi Thông tư số 43/2016/TT-NHNN quy định về cho vay tiêu dùng của công ty tài chính. Dự thảo có một số nội dung đáng lưu ý và có xu hướng siết chặt hoạt động của công ty tài chính.

Theo đó, dự thảo quy định hình thức công ty tài chính giải ngân cho vay tiêu dùng theo hai cách: Giải ngân thông qua bên thụ hưởng (bên cung ứng hàng hóa, dịch vụ) và giải ngân trực tiếp cho khách hàng. Công ty tài chính chỉ được giải ngân trực tiếp cho khách hàng vay đối với khách hàng đã và đang vay tại công ty tài chính đó, được đánh giá có lịch sử trả nợ tốt theo quy định nội bộ của công ty tài chính và không có nợ xấu theo kết quả phân loại nhóm nợ của Trung tâm thông tin tín dụng quốc gia Việt Nam đến thời điểm gần nhất tính từ thời điểm ký kết hợp đồng cho vay tiêu dùng. Đồng thời, công ty tài chính phải đảm bảo tổng dư nợ cho vay tiêu dùng giải ngân trực tiếp cho khách hàng vay không vượt quá 30% tổng dư nợ tín dụng tiêu dùng của công ty tài chính. Lý do là vì, theo NHNN, cho vay giải ngân trực tiếp cho khách hàng vay có rủi ro cao, khó kiểm soát mục đích sử dụng vốn vay, nên cần hướng đến khách hàng đã vay tại công ty tài chính và có lịch sử trả nợ tốt.


TS. Lê Xuân Nghĩa, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia

Tuy nhiên, có thể thấy rõ một số bất cập trong dự thảo Thông tư, nhất là việc phân biệt hình thức giải ngân cho vay tiêu dùng. Cụ thể:

Thứ nhất, sẽ gây ra trở ngại đối với những khoản vay nhỏ, nhưng số lượng mục đích sử dụng của khách hàng không hề nhỏ. Khi đó, thủ tục hành chính, chi phí hồ sơ, việc chứng minh mục đích sử dụng vốn sẽ trở nên vô cùng phức tạp. Thậm chí sẽ đẩy chi phí vay lên cao hơn hoặc thậm chí, khách hàng sẽ không thể tiếp cận được với công ty tài chính. Phải nhìn nhận rằng, người tiêu dùng có quyền sử dụng tiền vay theo mục đích vay. Ví dụ như vay tiêu dùng 30 triệu đồng, người tiêu dùng có thể sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau như mua sắm trang thiết bị, tài trợ cho con đi học, thậm chí là khám sức khỏe, chữa bệnh… mà mất nhiều thủ tục chứng minh mục đích sử dụng để được giải ngân thì đến khi vay được mọi chuyện đã lỡ rồi.

Hoặc như trường hợp ở những vùng quê, miền núi xa xôi, khi vay tiêu dùng để đóng góp quỹ cho địa phương, hoặc trường hợp cưới xin, ma chay… sẽ cần giải ngân trực tiếp cho khách hàng vay nhưng lại bị giới hạn tỷ lệ giải ngân trực tiếp; hoặc để giải ngân thông qua bên thụ hưởng sẽ vô cùng phức tạp, thậm chí, chưa chắc bên thụ hưởng đã có tài khoản để có thể nhận tiền.

Thứ hai, việc phân biệt hình thức giải ngân như dự thảo có thể trở thành kẽ hở cho những đối tượng xấu lợi dụng và trục lợi. Ví dụ, trường hợp khách hàng muốn nhận tiền trực tiếp để tiêu dùng theo nhu cầu của họ, có thể móc nối với các đơn vị trung gian cung ứng hàng hóa, dịch vụ để làm hồ sơ, chứng minh mục đích vay vốn và được giải ngân qua bên thụ hưởng. Tuy nhiên, ngay sau khi nhận tiền, bên cung ứng hàng hóa, dịch vụ chuyển lại tiền cho khách hàng và nhận phí hoa hồng từ khách hàng. Như vậy, vô hình chung khách hàng sẽ phải chịu phí hai lần, vừa phải trả tiền đã vay kèm lãi suất cho công ty tài chính, vừa phải trả tiền hoa hồng cho bên cung ứng hàng hóa, nhưng thực chất, mục đích sử dụng cũng đã thay đổi. Việc lách luật này hoàn toàn có thể xảy ra trên thực tế và người chịu thiệt lớn nhất chính là khách hàng có nhu cầu vay. Trong bối cảnh “tín dụng đen” đang diễn biến phức tạp như hiện nay, việc hạn chế này sẽ đẩy khách hàng tìm đến loại hình tín dụng phi chính thức này nhiều hơn, bởi nhu cầu tiêu dùng cao và có thật trên thị trường.

Thứ ba, chính cơ quan hành chính Nhà nước sẽ rất khó để có thể thanh tra, giám sát được hoạt động cho vay sẽ được tiến hành theo hình thức nào. Điều đó là phi thực tế và hoàn toàn không thể kiểm soát được, nhất là trong bối cảnh, tín dụng tiêu dùng đang có tiềm năng phát triển mạnh mẽ. Thậm chí theo tôi, chi phí để có thể thanh tra, giám sát với hàng triệu lượt vay tiêu dùng có thể sẽ lớn hơn cả chi phí lãi vay trong nhiều trường hợp. Ngoài ra, việc quy định này là không cần thiết, bởi thực tế, khi vay tiêu dùng, khách hàng đã phải chịu quy định theo hợp đồng và chứng minh khả năng trả nợ; còn công ty tài chính đã phải thẩm định và chịu trách nhiệm khi cho vay.

Thứ tư, trong điều kiện hiện nay của Việt Nam, phần lớn người nghèo đều không có tài khoản ngân hàng. Và không quen với giao dịch bằng tài khoản, nhất là với những người ở vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn. Vậy cho nên, quy định như dư thảo chưa phù hợp với thực tiễn của Việt Nam.

Mặt khác, việc dự thảo quy định, công ty tài chính chỉ được giải ngân trực tiếp cho khách hàng vay đối với khách hàng đã và đang vay tại công ty tài chính đó, được đánh giá có lịch sử trả nợ tốt theo quy định nội bộ của công ty tài chính và không có nợ xấu theo kết quả phân loại nhóm nợ của Trung tâm thông tin tín dụng quốc gia Việt Nam đến thời điểm gần nhất tính từ thời điểm ký kết hợp đồng cho vay tiêu dùng. Câu hỏi đặt ra là, đối với nhóm khác hàng mới, chưa từng vay tại công ty tài chính đó, sẽ không thể được giải ngân theo hình thức trực tiếp mà phải thông qua bên thụ hưởng? Như vậy, nhu cầu đa dạng của khách hàng đã bị thu hẹp và không thể đáp ứng hết. Điều này hoàn toàn không hợp lý và gây ra trở ngại lớn đối với các công ty tài chính muốn phát triển khách hàng mới.

Tóm lại, theo tôi, không nên quy định hình thức giải ngân cho vay tiêu dùng của công ty tài chính theo hai hình thức thông qua bên thụ hưởng và giải ngân trực tiếp cho khách hàng như dự thảo. Khi đó, sẽ nảy sinh nhiều bất cập và kìm hãm sự phát triển của các công ty tài chính và thị trường tín dụng tiêu dùng. Và do đó, việc giới hạn tổng dư nợ cho vay tiêu dùng giải ngân trực tiếp cho khách hàng vay không vượt quá 30% tổng dư nợ tín dụng tiêu dùng của công ty tài chính là không thỏa đáng. Ngân hàng Nhà nước nên để công ty tài chính và khách hàng tự thỏa thuận hình thức giải ngân phù hợp theo quy luật của thị trường.

Tín dụng tiêu dùng còn nhiều dư địa phát triển

Thống kê tại 16 nước châu Âu cho thấy, cho vay tiêu dùng chiếm tới 71% tổng cho vay của hệ thống ngân hàng, sau đó mới đến tỷ lệ cho vay sản xuất, kinh doanh khoảng 25%…

Số liệu của 16 nước châu Âu, nguồn từ Eurofinas 2015 cho biết, cho vay công nghiệp chiếm 7%, nhà ở và bất động sản khoảng 14%, phương tiện vận chuyển chiếm 31% (trong đó: xe thương mại là 17%, cá nhân là 24%), cho vay tiêu dùng cá nhân khoảng hơn 47%. Tổng cộng số liệu cho vay tiêu dùng cá nhân và phương tiện vận chuyển cá nhân là 71% tổng tín dụng dành cho vay tiêu dùng. Đó là chưa tính tới 14% của cho vay bất động sản.

Theo đó, tại châu Âu, trong 423,1 tỷ euro tín dụng mới thì 71% tín dụng dành cho cho vay tiêu dùng. Con số này ở Mỹ thấp hơn một chút nhưng cũng trên 50%. Những số liệu trên cho thấy, đẩy mạnh cho vay tín dụng tiêu dùng là một xu thế. Đối với Việt Nam, tôi nhắc lại rằng, muốn tạo động lực mới cho tăng trưởng, tiếp tục thúc đẩy xuất khẩu, cần chú trọng cầu tiêu dùng nội địa, hỗ trợ nhu cầu này phát triển vững chắc bằng tín dụng tiêu dùng.


Ảnh minh họa

Chúng ta đặt mục tiêu công nghiệp hoá đất nước, nhưng phải thẳng thắn nhìn nhận rằng, đây là mục tiêu không hề dễ dàng. Bốn nền kinh tế hàng đầu Đông Nam Á là Philipines, Thái Lan, Indonesia và Malaysia đã thất bại trong nỗ lực công nghiệp hoá đất nước của họ. Việt Nam nên phát triển dịch vụ và công nghiệp hóa đi vào công nghệ cao, công nghiệp 4.0 và đặc biệt, tín dụng tiêu dùng là xu thế không thể cưỡng lại.

Tuy nhiên, cách hoạt động tín dụng tại Việt Nam hiện đang cho thấy vẫn hướng nhiều vào sản xuất, kinh doanh mà chưa thực sự chú ý tới cho vay tiêu dùng.

Về nguyên lý, các quốc gia mới nổi, đang công nghiệp hóa chưa nên đẩy tín dụng tiêu dùng lên quá cao lấn át tiết kiệm, nhưng đối với Việt Nam, chúng ta có lịch sử phát triển 30 năm và đã có những thay đổi cơ bản về cấu trúc kinh tế với tỷ trọng nông nghiệp chiếm 17% GDP, dịch vụ trên 45% GDP và công nghiệp trên 33% GDP nên tình hình sẽ khác. Các chuyên gia phân tích quốc tế cho rằng, Việt Nam đã thoái nông nghiệp, không đi vào công nghiệp và chủ yếu tập trung phát triển dịch vụ, hay nói cách khác, chúng ta đang đi đúng hướng, đồng thời gặp may mắn bởi đây cũng là xu hướng chung của kinh tế thế giới.

Nếu hạn chế tín dụng tiêu dùng, “tín dụng đen” sẽ nở rộ

Việt Nam hiện có thị trường cho vay tiêu dùng vô cùng nhỏ bé. Chính điều này đã khiến “tín dụng đen” có đất nở rộ. Quan sát để thấy, các nước Đông Nam Á hay Bắc Á đã từng có một thời chịu ảnh hưởng của “tín dụng đen” nhưng dần dần, các nước này đã khắc phục được bằng cách phát triển hệ thống cho vay tiêu dùng chính thống.

Phải khẳng định rằng, tín dụng tiêu dùng hay công ty tài chính không những không phải là “tín dụng đen”, mà còn là một cứu cánh cho những “khách hàng” của loại hình này. Còn nếu muốn nói tới khía cạnh lãi suất thì nên hiểu rằng, rủi ro cao tất nhiên sẽ song hành với lãi suất sẽ cao hơn. Cao ở đây là so với các khoản vay giá trị lớn, thời gian dài và có tài sản đảm bảo, chứ nếu so với những rủi ro tiềm ẩn của loại hình vay tiêu dùng tín chấp thì lãi suất này mới chỉ đủ bù cho các chi phí vận hành.

Bên cạnh đó, nhu cầu trong nền kinh tế hiện tại rất lớn, đặc biệt với doanh nghiệp siêu nhỏ, hộ gia đình, học sinh, sinh viên, cá nhân có ý tưởng kinh doanh, làm dịch vụ, làm đẹp, học hành, đi du lịch, chữa bệnh… giải quyết các chi tiêu bất thường. Nếu không có tín dụng tiêu dùng, “tín dụng đen” sẽ phát triển nhanh khủng khiếp, trở thành vấn đề như của Hàn Quốc cách đây 20 năm. Khi đó, Chính phủ nước này đã đẩy mạnh tín dụng tiêu dùng để giảm tối đa “tín dụng đen”, vốn tạo ra những bất ổn xã hội và cả về thị trường tiền tệ.

Nếu Việt Nam muốn giải quyết những bước cơ bản về “tín dụng đen”, thì Chính phủ cần phải đẩy mạnh các tổ chức tài chính phi ngân hàng và ngành ngân hàng cũng phải dùng nguồn lực để cho vay tiêu dùng, hướng đến mục tiêu để lãi suất cho vay tiêu dùng ở mức hợp lý và thị trường tín dụng tiêu dùng phát triển lành mạnh, bền vững hơn.

Hạn chế rủi ro của tín dụng tiêu dùng bằng cách nào?

Tín dụng tiêu dùng đòi hỏi một số điều kiện để có thể quản lý và kiểm soát được. Thứ nhất, cần có một cơ sở dữ liệu khách hàng thật tốt. Tổ chức nào có cơ sở dữ liệu tốt sẽ thắng. Thứ hai, nghiên cứu về nhu cầu của khách hàng, phân loại, xếp loại rất cơ bản và cập nhật liên tục. Thứ ba, có hệ thống quản lý nợ khoa học, đánh giá nợ sớm, giám sát từ xa, thu hồi nợ chặt chẽ, dứt khoát. Thứ tư, dự phòng rủi ro thỏa đáng.

Bên cạnh đó, cũng có những lưu ý trong cho vay tiêu dùng là: Quản lý phòng ngừa rủi ro về kho quỹ, chống những gian lận thỏa hiệp giữa cán bộ tín dụng với người vay; giám sát các hợp đồng tín dụng thật chặt chẽ tránh tình trạng gian lận ngay khi làm hợp đồng; tồn tại những rủi ro trong thanh toán, đặc biệt là thanh toán bằng thẻ trả trước hoặc ví điện tử nên cần có một cơ quan đặc biệt để kiểm soát; đẩy mạnh cho vay tiêu dùng trên cơ sở nguồn vốn ổn định.

TS. Lê Xuân Nghĩa
Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang