KINH TẾ
Cập nhật 08:01 | 17/09/2019 (GMT+7)
.
Tương ớt Chin-su bị thu hồi tại Nhật Bản vì chứa natri benzoat

Tiêu chuẩn Codex mặc nhiên phù hợp với Việt Nam?

08:50 | 10/04/2019
Mặc dù đại diện Bộ Y tế xác nhận, việc cho phép sử dụng acid benzoic và acid sorbic (dạng muối là natri benzoat và kali sorbat) trong bảo quản thực phẩm là theo Ủy ban Tiêu chuẩn thực phẩm quốc tế (Codex), song đang có nhiều vấn đề đặt ra. Liệu tiêu chuẩn Codex có mặc nhiên phù hợp với Việt Nam? Nếu phù hợp, cơ sở nào để khẳng định các doanh nghiệp, trong đó có Công ty CP Hàng tiêu dùng Masan sử dụng chất này trong các sản phẩm như tương ớt Chin-su là đúng liều lượng?

Mỹ, châu Âu cho phép sử dụng

Phó Cục trưởng Cục An toàn thực phẩm, Bộ Y tế Trần Việt Nga cho biết, theo danh mục phụ gia do Bộ Y tế, lao động và phúc lợi xã hội Nhật Bản ban hành, có hiệu lực từ 30.12.2018, Nhật Bản cho phép sử dụng acid benzoic để bảo quản bơ thực vật, trứng cá các loại, siro, tương cà chua và đồ uống không cồn, hàm lượng cho phép là 0,6 - 2,5gr/kg tùy loại sản phẩm. Như vậy, Nhật Bản không cho phép sử dụng chất này trong tương ớt. Trong khi đó, tại Việt Nam, chất này được phép sử dụng khi chế biến thực phẩm, trong đó có tương ớt.


Hiện chưa có thông tin chính thống việc doanh nghiệp có bảo đảm đúng hàm lượn cho phép các chất bảo quản trong tương ớt Chin-su 
Nguồn: Tuoitre.vn

Lý giải điều này, bà Nga cho rằng, danh mục phụ gia của Việt Nam “hoàn toàn phù hợp với quy định của Codex”. Bà bổ sung, Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) cho phép nếu tuân thủ quy định của Codex thì không cần bổ sung bằng chứng khoa học, còn thực hiện khác Codex thì cần bằng chứng. Việc Nhật Bản không cho phép acid benzoic trong tương ớt vì đã có nghiên cứu. Thường, khi lựa chọn đưa phụ gia vào thực phẩm, mỗi nước sẽ dựa vào thói quen ăn uống của người dân để tính hàm lượng ăn vào tối đa hằng ngày, từ đó có thể cho phép sản phẩm này, không cho sản phẩm kia.

Cũng theo đại diện Bộ Y tế, mỗi phụ gia và hàm lượng trong danh mục của Codex phải trải qua 8 vòng đàm phán trong 5 - 7 năm, thậm chí cả chục năm. Điều quan trọng là “các phụ gia được Codex cho phép đã được đánh giá khoa học kỹ lưỡng”, bà nhấn mạnh.

Chuyên gia hóa học và quản trị chất lượng Vũ Thế Thành cho rằng, mục tiêu của Codex là nhằm bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng, đồng thời bảo đảm công bằng trong thương mại thực phẩm quốc tế. Do đó, tiêu chuẩn Codex chỉ có tính chất tham khảo, tùy tình hình cụ thể ở mỗi quốc gia mà áp dụng. “Việt Nam tuân thủ gần như 100% tiêu chuẩn Codex, nên cho phép dùng benzoic, sorbat trong tương ớt, song Nhật lại không cho phép (dù cùng là thành viên Codex - PV). Châu Âu và Hoa Kỳ không theo Codex, nhưng lại cho phép dùng benzoic và sorbat trong tương ớt”, ông Thành cho hay.

Song, vấn đề đặt ra cần được trả lời thỏa đáng là liệu có phải cứ là tiêu chuẩn Codex mặc nhiên phù hợp với Việt Nam?

Vênh vì thiếu nghiên cứu lâm sàng?

Chuyên gia Vũ Thế Thành cho rằng, để đánh giá độ an toàn của một phụ gia rồi pho phép sử dụng với liều lượng nào trong thực phẩm rất phức tạp. “Việt Nam không có điều kiện để làm việc này, nên chọn đi theo tiêu chuẩn của Codex là điều hợp lý. Về việc sửa đổi danh mục, nếu thấy cần để thích hợp điều kiện ẩm thực ở Việt Nam hơn thì vẫn sửa đổi được. Cục An toàn thực phẩm thỉnh thoảng vẫn tổ chức hội đồng khoa học để đánh giá một số trường hợp riêng lẻ và cập nhật danh mục này”, ông Thành trấn an.

Tuy nhiên, PGS.TS. Trần Hồng Côn, Khoa Hóa, Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội lại tỏ ý băn khoăn với cách làm ở Việt Nam hiện nay. Bởi lẽ, theo ông, bất cứ tiêu chuẩn nào của thế giới muốn được sử dụng tại một quốc gia cụ thể cần được thử nghiệm lâm sàng với người dân của đất nước đó. Đặc điểm của người Việt Nam là nhỏ con, sống trong môi trường có khí hậu khắc nghiệt hơn, mức sống còn khó khăn, công tác vệ sinh an toàn thực phẩm thấp hơn tiêu chuẩn của Mỹ, các nước châu Âu… Do đó, nếu lấy tiêu chuẩn quốc tế áp dụng luôn cho Việt Nam sẽ có độ vênh nhất định.

Song, “bất cập ở Việt Nam hiện nay là chưa có cơ sở, cơ quan nào đứng ra thử lâm sàng tiêu chuẩn quốc tế với người Việt Nam để đưa ra tiêu chuẩn phù hợp với nước ta. Đa số là sử dụng nguyên si tiêu chuẩn của thế giới, kể cả trong thực phẩm, hóa chất, thuốc men. Chẳng hạn, theo tiêu chuẩn của quốc tế, amoni trong nước là 3mg/lít, asen là 0,01mg/lít được coi là an toàn, nhưng ở Việt Nam có an toàn không thì hiện chúng ta vẫn chưa có nghiên cứu mà hầu như chỉ áp dụng theo tiêu chuẩn quốc tế”, ông Côn chỉ rõ.

Lý giải nguyên nhân của tình trạng này, theo ông Côn, có thể do đòi hỏi của người dân chưa khắt khe đến mức phải có tiêu chuẩn riêng cho người Việt Nam thì họ mới dùng các sản phẩm thực phẩm, thuốc men, hóa chất… như nhiều nước trên thế giới. Thứ nữa, để thực hiện nghiên cứu một chất nào đó có an toàn không có khi mất tới hàng trăm triệu, trong khi huy động khoản đầu tư này rất khó. Theo ông, việc nghiên cứu lâm sàng này là rất cần thiết, nhưng không thể giải quyết trong một sớm một chiều. Điều này đòi hỏi khi nào mức sống của người dân cao lên, bình diện kinh tế - xã hội phát triển tốt hơn, có thể khi đó chúng ta sẽ có điều kiện để đầu tư thực sự cho công tác này.

Một vấn đề nữa đặt ra là, theo khuyến cáo của Codex, hàm lượng axid sorbic được sử dụng trong thực phẩm từ 0,05 - 0,2% (tối đa 1%), còn axit benzoic sử dụng từ 0,05 - 0,1%, tức tối đa 1g/kg. Quy định hiện hành của Việt Nam cho phép hàm lượng acid benzoic trong tương ớt tối đa là 1g/kg, nhưng trên thực tế, các doanh nghiệp có tuân thủ nghiêm ngặt? Chưa kể, với việc sản phẩm tương ớt Chin-su sử dụng trên dưới chục chất phụ gia bảo quản liệu có phải là nhiều?

Theo PGS. TS. Trần Hồng Côn, vấn đề ở đây không phải là nhiều hay ít chất phụ gia, chất bảo quản, mà là các phụ gia này có được phép sử dụng không, có tuân thủ đúng hàm lượng không? “Nếu nhà sản xuất làm đúng quy định thì an toàn với con người, vượt quá thì không an toàn. Cho nên việc nhà sản xuất tuân thủ khắt khe tiêu chuẩn của từng quốc gia là cực kỳ quan trọng. Muốn vậy, cần có đội thanh tra đủ mạnh để biết là doanh nghiệp có vi phạm hay không”, ông nói.

Thực tế, liên quan đến sản phẩm tương ớt Chin-su bị thu hồi tại Nhật Bản, đến thời điểm này, vẫn chưa có thông tin chính thống rằng nhà sản xuất có bảo đảm tuân thủ đúng hàm lượng theo quy định hay không. Do đó, trong khi đại diện cơ quan quản lý nhà nước là Bộ Y tế khẳng định, các chất bảo quản acid benzoic và acid sorbic (dạng muối là natri benzoat (211) và kali sorbat (202)) được phép sử dụng trong tương ớt Chin-su theo danh mục của Codex thì nỗi lo lắng, hoang mang của người tiêu dùng về tính an toàn của sản phẩm này cũng là điều dễ hiểu. 

Đan Thanh
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang