KINH TẾ
Cập nhật 17:59 | 23/09/2019 (GMT+7)
.
Doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam

Vẫn gặp khó vì thủ tục

08:03 | 05/03/2019
Tại buổi họp báo công bố Khảo sát về thực trạng hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam do Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO) tại Hà Nội tổ chức sáng qua, đại diện JETRO xác nhận đa số doanh nghiệp đều tin tưởng có lãi cũng như sẽ mở rộng kinh doanh tại Việt Nam. Tuy nhiên, thủ tục hành chính, thuế cũng như hệ thống chính sách chưa hoàn thiện, vận hành thiếu minh bạch vẫn là trở ngại đối với doanh nghiệp.

Gần 70% doanh nghiệp sẽ mở rộng kinh doanh

Khảo sát được tiến hành từ ngày 9.10 đến ngày 9.11.2018 đối với 1.532 doanh nghiệp Nhật Bản đang hoạt động sản xuất kinh doanh tại Việt Nam. Trong đó, có 787 doanh nghiệp phản hồi hợp lệ, chiếm 51,4%. Đây là mức phản hồi cao nhất trong số các thị trường được khảo sát. “Điều đó chứng tỏ doanh nghiệp Nhật Bản rất quan tâm tới thị trường Việt Nam”, Trưởng đại diện JETRO tại Hà Nội Kitagawa Hironobu nói.

Năm 2018 có nhiều dấu ấn trong quan hệ giữa Việt Nam và Nhật Bản như kỷ niệm 45 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, Nhật Bản trở thành đối tác đầu tư lớn nhất vào Việt Nam xuyên suốt 30 năm qua - kể từ khi Việt Nam thực hiện đường lối Đổi mới. Vì vậy, bản báo cáo này của JETRO có ý nghĩa đặc biệt, như chia sẻ của Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Vũ Đại Thắng mở đầu cuộc họp báo: “Chúng tôi rất nóng lòng xem đánh giá, nhận xét của doanh nghiệp Nhật Bản về cơ chế, chính sách của Chính phủ trong năm 2018 có kết quả với doanh nghiệp cũng như xem “sức khỏe” của các doanh nghiệp này ở Việt Nam”.

Kết quả nghiên cứu của JETRO phần nào đáp ứng được kỳ vọng, trông đợi từ đại diện Bộ Kế hoạch và Đầu tư - với tư cách là cơ quan đầu mối của Chính phủ trong quản lý, hỗ trợ xúc tiến các dự án đầu tư của nước ngoài. Trình bày báo cáo, Trưởng đại diện JETRO tại Hà Nội Kitagawa Hironobu cho biết, tính riêng năm 2018, xét về dự án của doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam được phê duyệt là 630 dự án, cao nhất từ trước tới nay, dẫn đầu trong số các nước đầu tư vào Việt Nam.

Về ước tính lợi nhuận, có 65,3% doanh nghiệp dự đoán lợi nhuận “có lãi”, tăng 0,2 điểm so với năm trước. Xét theo dòng thời gian số năm doanh nghiệp đầu tư vào Việt Nam, những doanh nghiệp đầu tư trước năm 2010 có tỷ lệ lãi ổn định ở mức xấp xỉ 80%, chứng tỏ doanh nghiệp làm ăn lâu dài thì có lãi cao. Tỷ lệ nội địa hóa của Việt Nam đã tăng lên mức 36,3%... Nhìn  nhận về năm 2019, các doanh nghiệp đều tỏ ra lạc quan khi có 58,7% tin rằng lợi nhuận sẽ tăng. Về định hướng trong thời gian tới, có 69,8% cho rằng sẽ mở rộng kinh doanh tại Việt Nam, trong khi ở Trung Quốc chỉ là 48,3%, khu vực ASEAN khoảng 54,7%... “Điều này chứng tỏ thị trường Việt Nam hấp dẫn thế nào với doanh nghiệp Nhật Bản!”, ông Kitagawa Hironobu nói.

Không rõ vì sao phải đóng quỹ phòng, chống thiên tai

Mặc dù vậy, kết quả khảo sát doanh nghiệp Nhật Bản đánh giá về lợi thế và rủi ro khi đầu tư tại Việt Nam lại có xu hướng giảm bậc ở một số hạng mục so với năm 2017.

Cụ thể, trong 5 hạng mục được cho là lợi thế của Việt Nam, có 3 hạng mục là quy mô thị trường, tính tăng trưởng; chi phí nhân công thấp; môi trường sống tốt cho nhân viên người nước ngoài tăng điểm so với năm 2017. Còn lại 2 hạng mục là tình hình chính trị, xã hội ổn định và dễ tuyển dụng nhân công (lao động phổ thông và nhân viên thường) đều giảm điểm, lần lượt giảm 3,6% và 0,1%.

Ở chiều ngược lại, các doanh nghiệp Nhật Bản cũng chỉ ra 5 rủi ro khi kinh doanh tại Việt Nam, gồm: Giá nhân công tăng; hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, vận hành thiếu minh bạch; thuế và thủ tục phức tạp; thủ tục hành chính phức tạp; tỷ lệ nhân viên nghỉ việc cao. Minh chứng cho điều này, ông Kitagawa Hironobu cho biết: “Một số doanh nghiệp phản ánh họ chưa hiểu tại sao phải nộp quỹ phòng, chống thiên tai, số tiền thu dựa trên tính toán nào? Họ cũng cho rằng các thủ tục thuế, cơ chế thuế còn phức tạp. Luật về thuế còn khá rắc rối và thường xuyên bị thay đổi, điều chỉnh. Đối với thủ tục hành chính như thủ tục xin giấy phép lao động khá rắc rối, họ không biết nộp giấy tờ gì. Liên quan việc thiếu minh bạch trong vận hành chính sách, doanh nghiệp Nhật Bản không rõ chính sách bảo hộ ngành sản xuất ô tô của Chính phủ xây dựng như thế nào nên khó xây dựng chiến lược, kế hoạch kinh doanh”.

Giảm sự khó hiểu của quy định

Tại buổi họp báo, Thứ trưởng Vũ Đại Thắng đánh giá cao cách tiếp cận, chọn mẫu của khảo sát lần này. Ông cho rằng kết quả của báo cáo đã phản ánh thực tiễn khách quan các nội dung hoạt động của doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam không chỉ ở ngành nghề, lĩnh vực khác nhau mà ở các vùng, địa phương. “Các kết quả phản ánh trong báo cáo làm chúng tôi rất phấn khởi. Tôi lấy ví dụ là số doanh  nghiệp Nhật Bản làm ăn có lãi khoảng 65% là con số rất đáng quý nếu so sánh với các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (FDI) tại Việt Nam báo lỗ ở mức 52%. Hay tỷ lệ nội địa hóa đạt 36,3%, có xu hướng tăng đã thể hiện rõ các chính sách của Chính phủ trong thúc đẩy nền công nghiệp hỗ trợ bước đầu có hiệu quả với doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp FDI”, ông nói.

Đặc biệt, theo Thứ trưởng Vũ Đại Thắng, nghiên cứu chỉ ra lợi thế trong môi trường đầu tư kinh doanh của Việt Nam cũng phù hợp với nghiên cứu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư khi so sánh, đánh giá môi trường kinh doanh của Việt Nam với Trung Quốc và Thái Lan. Về rủi ro, đặc biệt là hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, vận hành thiếu minh bạch được thể hiện rõ trong quá trình thực thi luật về đầu tư và doanh nghiệp thời gian qua. “Đây sẽ là tài liệu rất đáng quý để chúng tôi hoàn thiện đề án trình Bộ Chính trị về xây dựng, hoàn thiện chính sách về đầu tư nước ngoài trong giai đoạn tới cũng như hoàn thiện Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp vào cuối năm nay”, ông nói.

Đại diện JETRO bày tỏ, để khắc phục những hạn chế trong các thủ tục hành chính cũng như thực thi pháp luật, Chính phủ cần nỗ lực giảm bớt sự khó hiểu trong các quy định, đẩy mạnh công tác tuyên truyền cho doanh nghiệp, hướng dẫn cụ thể doanh nghiệp cần làm gì. “Khi Chính phủ nỗ lực thì ảnh hưởng tiêu cực của thủ tục hành chính sẽ ngày càng giảm đi, đồng nghĩa sẽ giảm số doanh nghiệp cảm thấy chán nản hoặc muốn từ bỏ kinh doanh tại Việt Nam chỉ vì thủ tục hành chính”, ông tin tưởng.

Bài và ảnh: Đan Thanh
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang